Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 288/2024/HSST

Ngày: 25-09-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoài.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Phương Hồ
  2. Bà Tô Thị Tuyết Mai

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Kim An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Tất Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 09 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 267/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 279/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 09 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Trung T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1986, tại tỉnh Bạc Liêu; nơi thường trú: ấp B, xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; nơi cư trú: không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hoàng K (chết) và bà Lâm Thị D, có 01 anh, 01 chị và 02 em ruột, chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: năm 2004 bị Tòa án nhân dân Thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, năm 2005 bị Tòa án nhân dân Thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 01 năm 09 tháng tù tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt năm 2004, chấp hành hình phạt 02 năm 06 tháng tù giam, ngày 07 tháng 03 năm 2008, bị Tòa án nhân dân Thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, ngày 12 tháng 08 năm 2008, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt với bản án ngày 07 tháng 03 năm 2008, phải chấp hành hình phạt chung là 06 năm tù; bị bắt tạm giam ngày 11 tháng 04 năm 2024, “có mặt”.

Bị hại:

Ông Hồ Hoàng T1, sinh năm 1986; địa chỉ: số B, Đường B, Tổ F, Ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”.

Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1983; thường trú: số 161/GCA G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre; tạm trú: số B đường V, Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”.

Ông Sơn Ngọc Q, sinh năm 2005; thường trú: ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh; tạm trú: số B đường V, Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”.

Ông Sơn Ngọc T2, sinh năm 2004; thường trú: ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh; tạm trú: số B đường V, Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”.

Ông Sơn L, sinh năm 1991; thường trú: ấp Đ, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; tạm trú: số B đường V, Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 01 năm 2021, Lê Trung T thấy ông Hồ Hoàng T1 đang trên trang mạng “Chợ tốt” tuyển tài xế lái xe ô tô tải. Tiền lương đối với ông T1 để xin việc làm. Ông T1 đồng ý thuê T lái xe ô tô tải với mức lương 8.000.000 đồng/tháng và bao ăn ở tại nhà ông T1. Tiền lương việc cho ông T1 được khoảng 01 tháng, đến ngày 21 tháng 02 năm 2021, ông T1 yêu cầu T lái xe ô tô tải đi giao gà tại xã T và xã L. Tiền giao gà tại xã T lấy được số tiền 3.500.000 đồng và giao gà tại xã T lấy được số tiền 3.800.000 đồng rồi quay về nhà ông T1 gặp bà Nguyễn Thị C, là mẹ ông T1 đang ở nhà. Tiền hồi bà C mượn xe gắn máy hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ đen, biển số 59Y2-085.34 đi công việc một lúc rồi về. Bà C yêu cầu T đưa tiền giao gà, T đưa cho bà C 3.500.000 đồng, giữ lại 3.800.000 đồng và nói với bà C khách hàng còn lại chưa trả tiền gà. Sau đó T bỏ đi khỏi nhà ông T1 và mang xe gắn máy đi đến điểm đã gà khu vực nghĩa trang Đ, huyện B gặp một người tên T3 (không rõ lai lịch) cầm được số tiền 6.000.000 đồng tiêu xài hết.

Qua điều tra, T còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như sau: Ngày 20 tháng 12 năm 2022, T đến Công ty N1, địa chỉ số B đường V, Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh xin việc làm. Trong thời gian làm việc tại đây, T thấy các công nhân ở khu nhà nghỉ tập thể thường để điện thoại di động trong phòng nghỉ rồi đi làm nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Vào khoảng 12 giờ 40 phút ngày 29 tháng 12 năm 2022, T lấy trộm 05 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động hiệu OPPO RENO X10 ZOOM và 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A32 5G của ông Nguyễn Văn N, 01 điện thoại di động hiệu OPPO RENO 7Z5G của ông Sơn Ngọc Q, 01 điện thoại di động hiệu OPPO A3S của ông Sơn Ngọc T2 và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A57 màu xám của ông Sơn L. Sau khi lấy trộm các tài sản trên, T mang bán cho đối tượng tên Tí L1 (không rõ lai lịch) tại khu vực bến xe M được 14.000.000 đồng tiêu xài cá nhân hết.

Ngoài ra, ngày 15 tháng 12 năm 2022, T mượn số tiền 62.000.000 đồng, 02 nhẫn vàng 18 Kara trị giá khoảng 5.000.000 đồng và một xe mô tô hiệu HONDA SH MODE biển số 69B1-431.85 của bạn gái tên Tô Thị M tại nhà trọ của chị M địa chỉ số A Bình Quới B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương mang đến dịch vụ cầm đồ “Thảo Ty”, số D đường B, Phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cầm xe mô tô trên được 11.600.000 đồng tiêu xài hết. Nhiều lần chị M gọi điện yêu cầu T chuộc xe trả cho chị M nhưng T không có tiền chuộc lại xe nên chặn Zalo, Facebook và số điện thoại liên lạc với chị M. Ngày 14 tháng 01 năm 2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã chuyển tố giác tội phạm của chị Tô Thị M đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương thụ lý giải quyết.

Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 90/KL-HĐĐGTS ngày 26 tháng 04 năm 2023 kết luận: xe gắn máy hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ đen, biển số 59Y2-085.34 giá trị 10.000.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 91/KL-HĐĐGTS ngày 26 tháng 04 năm 2023 kết luận 05 điện thoại di động trị giá 16.500.000 đồng gồm: 01 điện thoại di động hiệu OPPO RENO X10 ZOOM trị giá 4.500.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A32 5G trị giá 3.000.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu OPPO RENO 7Z5G trị giá 5.000.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu OPPO A3S trị giá 1.000.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A57 màu xám trị giá: 3.000.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ là tài sản của bị cáo, 01 Giấy biên nhận cầm đồ ngày 01 tháng 01 năm 2023 có tên dịch vụ câm đồ là Thảo T4 và 01 USB (đã được niêm phong).

Phần dân sự: Ông Hồ Hoàng T1 không yêu cầu bồi thường thiệt hại, ông Nguyễn Văn N yêu cầu bị cáo bồi thường 01 điện thoại di động hiệu OPPO RENO X10 ZOOM trị giá 12.000.000đ và 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A32 5G trị giá 8.000.000đ, tổng cộng 20.000.000 đồng, ông Sơn Ngọc Q yêu cầu bị cáo bồi thường 01 điện thoại di động hiệu OPPO RENO TZ5G trị giá 12.000.000 đồng, ông Sơn Ngọc T2 yêu cầu bị cáo bồi thường 01 điện thoại di động hiệu OPPO A3S trị giá 4.000.000 đồng, ông Sơn L yêu cầu bị cáo bồi thường 01 điện thoại di động hiệu OPPO A57 trị giá 4.800.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 252/CT-VKS.CC ngày 05 tháng 09 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lê Trung T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 173, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Trung T mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 175, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Trung T mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt của hai tội danh “Trộm cắp tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” buộc bị cáo Lê Trung T phải chấp hành hình phạt chung là 03 năm đến 04 năm tù.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho các bị hại theo giá tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 91/KL-HĐĐGTS ngày 26 tháng 04 năm 2023.

Đối với đối tượng tên T3 và Tí L1 là người mua các tài sản do bị cáo phạm tội mà có, khi nào cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C điều tra làm rõ được sẽ xử lý sau.

Tại phiên toà, bị cáo Lê Trung T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Lời nói sau cùng, bị cáo Lê Trung T đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Trung T thừa nhận hành vi trộm cắp 05 điện thoại di động của ông Nguyễn Văn N, ông Sơn Ngọc Q, ông Sơn Ngọc T2 và ông Sơn L tại địa chỉ B đường V, Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, có tổng trị giá là 16.500.000 đồng, và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt của ông Hồ Hoàng T1 tại địa chỉ số B, Đường B, Tổ F, Ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh một xe gắn máy trị giá 10.000.000 đồng và tiền giao gà là 3.800.000 đồng, tổng cộng là 13.800.000 đồng; ngoài ra bị cáo còn có hành vi mượn tiền, vàng và một xe mô tô hiệu SH của chị Tô Thị M tại nhà trọ của chị M địa chỉ số A Bình Quới B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, sau đó bị cáo mang xe SH đi cầm đồ tại cơ sở dịch vụ cầm đồ “Thảo Ty”, địa chỉ số D đường B, Phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh được 11.600.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt được của các bị hại, bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết.

Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai của bị cáo về hành vi trộm cắp tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản phù hợp với lời khai của các bị hại, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan điều tra Công an huyện C, với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, hành vi lén lút lấy trộm 05 chiếc điện thoại di động có giá trị 16.500.000 đồng của ông Nguyễn Văn N, ông Sơn Ngọc Q, ông Sơn Ngọc T2, ông Sơn L và hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt chiếc xe gắn máy trị giá 10.000.000 đồng và 3.800.000 đồng tiền gà của ông Hồ Hoàng T1 nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ; vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Trung T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, gây bức xúc cho quần chúng nhân dân, song để có tiền tiêu xài bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử phạt về tội trộm cắp tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tuy nhiên bị cáo không sửa đổi bản thân mà tiếp tục phạm tội, bị cáo phạm một lúc hai tội, sau khi bị bắt bị cáo được tại ngoại nhưng đã bỏ trốn khiến cơ quan chức năng phải ra lệnh truy nã, điều đó thể hiện ý thức của bị cáo rất coi thường pháp luật, nên cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo học tập và cải tạo, sau này trở thành người biết tôn trọng pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Tại phiên tòa bị cáo khai bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử vắng mặt về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” vào ngày 29 tháng 08 năm 2024, bị cáo chưa được nhận bản án; xét thấy, đây chỉ là lời khai của bị cáo không có chứng cứ chứng minh nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 173 và khoản 5 Điều 175 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên quyết định miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[3] Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ, xét thấy, đây là tài sản cá nhân của bị cáo không dùng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại bị cáo.

Đối với 01 Giấy biên nhận cầm đồ ngày 01 tháng 01 năm 2023, tên dịch vụ cầm đồ Thảo Ty và 01 USB (đã được niêm phong) có chứa đoạn clip trích xuất camera xưởng Công ty N1, thời lượng 02 phút 53 giây, từ 12:44:26 đến 12:47:29 ngày 29 tháng 12 năm 2023 ghi nhận hình ảnh bị cáo vào khu nhà nghỉ tập thể công nhân để lấy trộm tài sản được đưa vào hồ sơ vụ án làm tài liệu chứng cứ là phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra vụ án, các bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường 05 chiếc điện thoại bị mất là 40.800.000 đồng, tại Kết luận định giá tài sản ngày 26 tháng 04 năm 2023 thì 05 chiếc điện thoại trên được định giá là 16.500.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại theo mức giá tại Kết luận định giá nêu trên, xét thấy, 05 chiếc điện thoại mà bị cáo chiếm đoạt của các bị hại đều đã qua sử dụng, bị cáo đề nghị được bồi thường cho các bị hại theo giá tại Kết luận định giá là phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của các bị hại, buộc bị cáo bồi thường cho ông Nguyễn Văn N 7.500.000 đồng, ông Sơn Ngọc Q 5.000.000 đồng, ông Sơn Ngọc T2 1.000.000 đồng, ông Sơn L 3.000.000 đồng, bồi thường một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bị hại ông Hồ Hoàng T1 không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Đối với đối tượng tên T3 và Tí L1 là người tiêu thụ tài sản do bị cáo phạm tội mà có khi nào cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C điều tra làm rõ được sẽ xử lý sau.

[6] Đối với hành vi bị cáo mượn số tiền 62.000.000 đồng, 02 nhẫn vàng 18 Kara và một xe mô tô hiệu HONDA SH MODE biển số 69B1-431.85 của chị Tô Thị M tại địa chỉ số A Bình Quới B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương mang đến dịch vụ cầm đồ “Thảo Ty”, số D đường B, Phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cầm xe mô tô trên lấy 11.600.000 đồng tiêu xài hết rồi sau đó không chuộc lại xe để trả cho chị M, Cơ quan điều tra công an huyện C đã chuyển tin báo tố giác tội phạm của chị M đến Cơ quan công an thành phố T, tỉnh Bình Dương là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Hội đồng xét xử xét thấy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo Lê Trung T tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, mức hình phạt mà Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[8] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Trung T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Xử phạt bị cáo Lê Trung T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

    Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Xử phạt bị cáo Lê Trung T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;

    Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tổng hợp hình phạt của hai tội danh “Trộm cắp tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” buộc bị cáo Lê Trung T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội danh là 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 11 tháng 04 năm 2024.

  3. Áp dụng các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

    Trả lại cho bị cáo Lê Trung T một điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ theo Phiếu nhập kho số 154/PNK ngày 06 tháng 06 năm 2024.

    Buộc bị cáo Lê Trung T bồi thường cho ông Nguyễn Văn N 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng), bồi thường cho ông Sơn Ngọc Q 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), bồi thường cho ông Sơn Ngọc T2 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), bồi thường cho ông Sơn L 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), bồi thường một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

  4. Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án: buộc bị cáo Lê Trung T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 825.000 đồng (T5 trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: bị cáo Lê Trung T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Kim Hoài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 288/2024/HSST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự về tội "trộm cắp tài sản" và "lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản"

  • Số bản án: 288/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Trộm cắp tài sản" và "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger