Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGÔ QUYỀN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 288/2024/HS-ST

Ngày 14-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hảo

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Mão

Bà Nguyễn Thị Tư

Thư ký phiên toà: Ông Vũ Trọng Kiên - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Bích Ngọc và ông Đoàn Quảng Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 287/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 713/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số: 761/TB-TA ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Đỗ Đức T, sinh ngày 07 tháng 12 năm 1976 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký thường trú: Tổ M, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn P và bà Trần Thị L; có vợ là Phan Trần Thùy D (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 09/5/2024 đến ngày 18/5/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
  2. Nguyễn Thành D, sinh ngày 05 tháng 12 năm 1994 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký thường trú: Phường T, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trung H (đã chết) và bà Bùi Thị N; có vợ là Lê Thị Tân T và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định số 12/QĐ-XPVPHC ngày 25/8/2020, Công an quận Ngô Quyền xử phạt 500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đã nộp phạt xong ngày 27/8/2020, được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính); bị tạm giữ từ ngày 09/5/2024 đến ngày 18/5/2024 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người làm chứng: Chị Đổng Thị Bảo H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do buồn chán việc gia đình nên Đỗ Đức T nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng. Khoảng 15 giờ ngày 09/5/2024, T gọi điện từ số điện thoại 0989.129.xxx đến số điện thoại 0931.065.xxx của Nguyễn Thành D hỏi mua 01 viên thuốc lắc và 01 gam ma túy Ketamine. D đồng ý bán với giá 1.500.000 đồng và hẹn giao dịch tại địa chỉ số 16 lô 6B Lê Hồng Phong, phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, đồng thời T hỏi mượn của D 01 loa bluetooth. Khoảng 30 phút sau, D đến điểm hẹn, đưa cho T 01 túi nilon kích thước khoảng 4x7cm bên trong chứa 01 viên thuốc lắc màu xám, 01 gam Ketamine và 01 loa bluetooth. Do T chưa có tiền nên hẹn D sẽ trả tiền sau. Mua được ma túy, T nhắn tin qua ứng dụng zalo rủ Đổng Thị Bảo H đến nhà nghỉ Thiên An để cùng sử dụng ma túy, H đồng ý. T cầm số ma túy mua được, loa bluetooth và đèn nháy đi bộ đến nhà nghỉ Thiên An thuê phòng 204, T chỉ nói thuê phòng nghỉ tại nhà nghỉ, lễ tân không biết việc T thuê phòng để sử dụng ma túy. Tại đây, T tự sử dụng nửa viên thuốc lắc bằng cách uống vào cơ thể, nửa viên thuốc lắc còn lại và số ma túy Ketamine, T để trên bàn. Một lúc sau H đến, T nói với H: “Có chơi thì lấy mà chơi”, H hiểu ý, lấy nửa viên thuốc lắc còn lại tự uống vào cơ thể. Sử dụng xong ma túy, T và H nằm nghe nhạc chưa kịp sử dụng Ketamine thì bị Công an quận Ngô Quyền bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: 01 túi nilon kích thước khoảng 04x07cm bên trong chứa tinh thể màu trắng, 01 loa bluetooth, 01 đèn nháy, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro lắp sim số 0989129986 đã qua sử dụng của Đỗ Đức T, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh lắp sim số 0829052003 đã qua sử dụng của Đổng Thị Bảo H.

Mở rộng điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngô Quyền ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thành D. Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại Samsung Galaxy Z Flip 4 lắp sim số 0931065226. D khai nhận: Đầu tháng 4/2024, D đến thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh chơi, tại đây D gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 02 gam ma túy ketamine với giá 2.000.000 đồng và 01 viên thuốc lắc giá 200.000 đồng, D thanh toán tiền cho người đàn ông bán ma túy bằng hình thức trả tiền mặt, sau đó đã tự sử dụng hết 01 gam ketamine, còn lại 01 gam ketamine và 01 viên thuốc lắc màu xám D bán cho T vào ngày 09/5/2024 với giá 1.200.000 đồng 01 gam ketamine và 300.000 đồng 01 viên thuốc lắc nhưng chưa trả tiền.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thành D và Đỗ Đức T, Cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến hành vi phạm tội. Kiểm tra dữ liệu điện thoại của Đỗ Đức T, Nguyễn Thành D và Đổng Thị Bảo H đều thể hiện nội dung tin nhắn, cuộc gọi điện thoại trao đổi liên quan đến hành vi phạm tội. Kết quả xét nghiệm nước tiểu của Đỗ Đức T và Đổng Thị Bảo H Dơng tính với test thử chất ma túy MDMA, kết quả xét nghiệm nước tiểu của Nguyễn Thành D âm tính với test thử các chất ma túy.

Tại Bản kết luận giám định số 564/KL-KTHS ngày 14/5/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,98 gam; là loại: Ketamine.

Về xử lý vật chứng: Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng quản lý: 01 phong bì niêm phong số 564MT/PC09 chứa 0,87 gam Ketamine cùng toàn bộ vỏ bao bì hoàn lại sau giám định, 01 loa bluetooth, 01 đèn nháy, 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro có gắn sim thu giữ của Đỗ Đức T và 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Z Flip 4 thu giữ của Nguyễn Thành D. Cơ quan Công an đã tiến hành trả lại cho H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax có gắn sim đã qua sử dụng.

Tại Bản cáo trạng số 289/CT-VKSNQ ngày 21/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Đỗ Đức T về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự và Nguyễn Thành D về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Đức T với mức án từ 36 tháng đến 42 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; căn cứ điểm khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành D với mức án từ 39 tháng đến 45 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 564MT/PC09 chứa 0,87 gam Ketamine cùng toàn bộ vỏ bao bì hoàn lại sau giám định; 01 loa bluetooth; 01 đèn nháy. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro có gắn sim của Đỗ Đức T và 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Z Flip 4 của Nguyễn Thành D. Buộc bị cáo T phải nộp lại số tiền 1.500.000 đồng mua ma túy chưa trả cho bị cáo D. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
  2. Về việc vắng mặt của người làm chứng: Người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về tội danh:

  1. Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 15 giờ ngày 09/5/2024, tại khu vực nhà số 16 lô 6B Lê Hồng Phong, phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Thành D có hành vi bán trái phép 0,98 gam Ketamine và 01 viên thuốc lắc cho Đỗ Đức T với giá 1.500.000 đồng. Khoảng 17 giờ ngày 09/5/2024, tại phòng 204 khách sạn Thiên An địa chỉ số 66 Đỗ Chính, phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Đỗ Đức T có hành vi cung cấp chất ma túy, địa điểm để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể Đổng Thị Bảo H. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Thành D đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, hành vi của bị cáo Đỗ Đức T đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
  2. Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.
  1. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác. Vì vậy, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm.

- Về nhân thân:

  1. Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự. Bị cáo Nguyễn Thành D bị Công an quận Ngô Quyền xử phạt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 12/QĐ-XPVPHC ngày 25/8/2020 đã được xóa nhưng cần xem xét, đánh giá khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

  1. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  1. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T có hai chú là liệt sĩ, bà nội là mẹ Việt Nam anh hùng, bố mẹ đều là người có công với Cách mạng, bị cáo D có ông nội là người có công với Cách mạng nên các bị cáo đều được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

  1. Do các bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không cần thiết bắt bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 và khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

- Về việc xử lý vật chứng:

  1. Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 564MT/PC09 chứa 0,87 gam Ketamine cùng toàn bộ vỏ bao bì hoàn lại sau giám định, 01 loa bluetooth, 01 đèn nháy; tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro có gắn sim thu giữ của Đỗ Đức T và 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Z Flip 4 thu giữ của Nguyễn Thành D. Buộc bị cáo T phải nộp lại số tiền 1.500.000 đồng mua ma túy chưa trả cho bị cáo D để sung ngân sách Nhà nước.

- Về án phí:

  1. Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

  1. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
  1. Đối với Đổng Thị Bảo H chỉ là người thụ hưởng, không có vai trò gì trong việc Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, do đó Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 169/QĐ-XPHC ngày 03/10/2024 đối với H về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
  2. Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Thành D, hiện chưa xác định được lai lịch nên chưa có căn cứ xử lý.
  3. Đối với bà Tạ Thị Thúy Mai là chủ cơ sở nhà nghỉ Thiên An, có trách nhiệm quản lý cơ sở thuê lưu trú để xảy ra tình trạng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Công an quận Ngô Quyền đã ra văn bản số 4357/CANQ ngày 04/7/2024 đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Ngô Quyền ra quyết định xử phạt hành chính theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Đức T; căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thành D.

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Đức T phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo Nguyễn Thành D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt:

+ Bị cáo Đỗ Đức T 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/5/2024.

+ Bị cáo Nguyễn Thành D 39 (Ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/5/2024.

- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 564MT/PC09 chứa 0,87 gam Ketamine cùng toàn bộ vỏ bao bì hoàn lại sau giám định, 01 loa bluetooth, 01 đèn nháy; tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro có gắn sim thu giữ của Đỗ Đức T và 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Z Flip 4 thu giữ của Nguyễn Thành D theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Bị cáo Đỗ Đức T phải nộp lại số tiền 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng để sung ngân sách Nhà nước.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, các bị cáo Đỗ Đức T và Nguyễn Thành D, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả T thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Ngô Quyền;
  • - Công an quận Ngô Quyền;
  • - Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Ngô Quyền;
  • - Chi cục THADS quận Ngô Quyền;
  • - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Hảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 288/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 288/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo T và D phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger