|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 288/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10/8/2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Cường |
| Các Hội thẩm nhân dân. | Bà Nguyễn Thị Tuyết |
| Bà Mai Thị Thảo | |
| - Thư ký phiên tòa: | Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. |
| - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên. |
Ngày 10 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 143/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 233/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 178/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 06/TB-TA ngày 27 tháng 6 năm 2024 và Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số 07/TB-TA ngày 22 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Ngọc T, sinh năm 1997,
Địa chỉ: Số B đường T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn: Chị Dương Thị T1, sinh năm 1998,
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Số B đường T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Chỗ ở hiện nay: Angola.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được anh T ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng: Bà Phạm Thị D, sinh năm 1977, địa chỉ: Số B đường T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
Anh T2, chị T1, bà D đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn và bản tự khai, biên bản lấy lời khai, anh Lê Ngọc T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Dương Thị T1 tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường S, thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh Hải Dương vào ngày 05/3/2018 và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, chị T1 chuyển về nhà anh sinh sống, vợ chồng chung sống đến cuối năm 2018 thì chị T1 đi Angola, 3 tháng sau anh sang Angola làm việc. Tại nước ngoài vợ chồng thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân và không liên lạc với nhau từ năm 2020 cho đến nay. Đầu năm 2024 anh về nước và xác định đã không còn tình cảm với chị T1 đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Dương Thị T1 để anh sớm ổn định cuộc sống riêng.
- Về con chung: Vợ chồng tôi có 01 con chung là Lê Hoàng T3, sinh ngày 01/6/2015, hiện đang sinh sống cùng anh. Ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, tự nguyện không yêu cầu chị T1 phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng anh. Do anh đang hoàn thiện thủ tục hồ sơ đi lao động tại Đài Loan nên anh nhờ mẹ anh là bà Phạm Thị D, địa chỉ: Số nhà B đường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương thay anh chăm sóc cháu T3 cho đến khi anh về nước.
- Về tài sản, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bà Nguyễn Thị Đ (là mẹ đẻ của chị Dương Thị T1) trình bày: Về thời điểm kết hôn, mâu thuẫn của vợ chồng anh T, chị T1 như anh T trình bày là đúng. Hiện nay chị T1 đang lao động ở Angola, địa chỉ thì gia đình không nắm được. Chị T1 vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình, chị T1 có quan điểm xác định vợ chồng đã không còn tình cảm, không có sự quan tâm trong cuộc sống, chị T1 nhất trí ly hôn theo yêu cầu của anh T. Về con chung, vợ chồng có 01 con chung Lê Hoàng T3, sinh ngày 01/6/2015. Anh T2 có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, tự nguyện không yêu cầu chị T1 cấp dưỡng, chị T1 nhất trí. Anh T2 đang làm thủ tục đi lao động ở Đài Loan, anh T2 nhờ mẹ đẻ là bà Phạm Thị D chăm sóc con chung trong thời gian anh T2 đi nước ngoài, chị T1 đồng ý. Chị T1 đang đi làm ở Angola, các văn bản tố tụng Tòa án giao cho chị T1, bà sẽ nhận thay và cam kết giao lại, thông báo cho chị T1 được biết.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người được anh T2 ủy quyền giao, nhận văn bản bà Phạm Thị D trình bày: Anh Tuấn nhờ bà chăm sóc các con chung trong thời gian anh T2 đi lao động ở Đài Loan, bà nhất trí. Anh T2 ủy quyền cho bà nhận thay các văn bản tố tụng của Tòa án, bà đồng ý.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn anh T2 có đơn đề nghị xin vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; người có quyền quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà D có quan điểm xin vắng mặt; Bị đơn chị T1 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho anh Lê Ngọc T được ly hôn với chị Dương Thị T1; Giao cho anh T tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung Lê Hoàng T3, sinh ngày 01/6/2015 cho đến khi trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị T1 phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung. Tạm giao cháu T3 cho bà Phạm Thị D (là mẹ đẻ anh T) chăm sóc trong thời gian anh T lao động ở nước ngoài. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết. Về án phí: Anh T2 phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Anh T2 có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa chị và chị Dương Thị T1. Chị T1 hiện đang sinh sống và lao động tại Angola. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T2 không cung cấp được địa chỉ của chị T1 tại Angola. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu anh T2 và gia đình chị T1 cung cấp địa chỉ nhưng anh T2 không cung cấp được. Thông qua gia đình xác định anh T2 có liên lạc về gia đình, gia đình chị T1 không cung cấp được địa chỉ của chị T1 tại Angola. Do vậy, áp dụng Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.
Tại phiên tòa anh T2 có đơn xin vắng mặt; bà D có quan điểm xin vắng mặt; chị T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T2, chị T1 và bà D.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Ngọc T và chị Dương Thị T1 tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương vào ngày 05/3/2018 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn chị T1 và anh T lần lượt sang Angola làm việc, tại nước ngoài vợ chồng thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài, không có sự quan tâm đến nhau trong cuộc sống. Năm 2024 anh T về Việt Nam và có đơn xin ly hôn, thông qua gia đình chị T1 xác định tình cảm vợ chồng không còn, có quan điểm nhất trí ly hôn theo yêu cầu của anh T. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng anh T, chị T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho anh T được ly hôn chị T1 là phù hợp.
[2.2]. Về quan hệ con chung: Anh T2, chị T1 có 01 con chung là cháu Lê Hoàng T3, sinh ngày 01/6/2015, con chung hiện đang ở cùng với anh T2. Chị T1 và anh T2 cùng có quan điểm để anh T2 được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn.
Xét thấy, cần tôn trọng có nguyện vọng của con chung nên chấp nhận thỏa thuận của vợ chồng, giao anh T2 được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Hoàng T3, sinh ngày 01/6/2015 cho đến khi trưởng thành. Anh T2 nhờ bà D chăm sóc cháu T3 trong thời gian anh làm việc ở nước ngoài. Do vậy, tạm giao cháu T3 cho bà Phạm Thị D (mẹ đẻ của chị T2) chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh T2 về Việt Nam trực tiếp nuôi dưỡng. Việc anh T2 tự nguyện không yêu cầu chị T1 cấp dưỡng nuôi con mặc dù đã được Toà án giải thích quyền yêu cầu cấp dưỡng, nên cần chấp nhận sự tự nguyện của anh T2.
Chị Dương Thị T1 được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Anh T2 là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lê Ngọc T được ly hôn chị Dương Thị T1.
- Về con chung: Giao cho anh Lê Ngọc T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Lê Hoàng T3, sinh ngày 01/6/2015 cho đến khi đủ 18 tuổi, trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị T1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Chị Dương Thị T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Anh Lê Ngọc T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000543 ngày 25/3/2024 (anh T đã nộp đủ án phí).
- Về quyền kháng cáo: Anh Tuấn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Chị T1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Cường |
Bản án số 288/2024/HNGĐ-ST ngày 10/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 288/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN TUẤN THÚY