|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 288/2024/HNGĐ-ST Ngày: 06/8/2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nguyên
Bà Ngô Thị Thơm
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 186/2024/HNGĐ-TLST ngày 10/4/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 228/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 181/2024/QĐ-ST ngày 19 tháng 06 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian mở lại phiên tòa số 166/TB-TA ngày 12/7/2024, giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thục T, sinh ngày 20/11/1997.
HKTT: Thôn một, xã Cẩm Đông, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
Hiện ở: Khu 6, xã Vĩnh Lại, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Người được chị T ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng: Anh Vũ Tùng D, sinh năm 1997 (có mặt).
Địa chỉ: Khu M, xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
2. Bị đơn : Anh Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 04/11/1991.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn một, xã Cẩm Đông, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
Hiện ở: Đài Loan (vắng mặt).
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971 và ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1969.
Địa chỉ: Thôn M, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương. (Ông L có mặt, bà H vắng mặt).
4. Người làm chứng:
Ông Phạm Văn L1, sinh năm 1966 và bà Đào Thị Thanh H1, sinh năm 1969.
Địa chỉ: Khu F, xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn chị Phạm Thị Thục T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn Đại tự d tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương ngày 04/5/2019. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Mặc dù được gia đình hai bên nhiều lần hòa giải nhưng mâu thuẫn không được giải quyết. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ.
Về quan hệ con chung: Chị và anh Đ có 1 con chung là Nguyễn Bảo N, sinh ngày 10/8/2019, do con còn nhỏ nên ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con và tự nguyện không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Trong thời gian chị ở nước ngoài, chị ủy quyền cho bố mẹ đẻ là ông Phạm Văn L1 và bà Đào Thị Thanh H1 chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh Đại t thỏa thuận, ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Anh Nguyễn Văn Đ hiện nay đang lao động tại Đài Loan. Do chị T không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Đ nên Tòa án đã xác minh địa chỉ của anh Đ thông qua gia đình. Ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị H là bố mẹ đẻ của anh Đ xác định, hiện nay anh Đ, chị T đang sinh sống tại Đài Loan và có xảy ra mâu thuẫn. Mặc dù anh Đ, chị T đều ở nước ngoài nhưng mỗi người sống một nơi, không quan tâm đến nhau. Tháng 3/2024 anh Đ, chị T có về Việt Nam thăm gia đình và làm thủ tục ly hôn, tuy nhiên do chưa thống nhất được việc nuôi con nên chị T làm thủ tục ly hôn đơn phương gửi đến Tòa án. Địa chỉ của anh Đ ở nước ngoài gia đình không biết, nhưng anh Đ vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình. Ông L, bà H đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh Đ biết. Thông qua gia đình cũng như tại buổi làm việc với Tòa án, anh Đ đã trực tiếp gọi điện thoại về và thể hiện quan điểm: Vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, anh không còn tình cảm với chị T, nay chị T có đơn ly hôn anh đồng ý. Về con chung anh có nguyện vọng được nuôi cháu Nguyễn Bảo N và tự nguyện không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Đến tháng 3/2025 anh hết hạn hợp đồng lao động thì anh về Việt Nam trực tiếp nuôi con. Trong thời gian anh không có mặt ở Việt Nam, anh tiếp tục ủy quyền cho bố mẹ đẻ là ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị H chăm sóc cháu N. Về tài sản chung, nợ chung không có, ly hôn anh không đề nghị Tòa án giải quyết. Do điều kiện anh chưa thể về Việt Nam, nên anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Anh ủy quyền cho bố mẹ đẻ nhận thay các văn bản tố tụng của Tòa án.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị H trình bày: Ông bà là bố mẹ đẻ của anh Đ, ông bà đồng ý nhận ủy quyền của anh Đ về việc chăm sóc cháu Nguyễn Bảo N trong thời gian anh Đ không ở Việt Nam. Ông bà xác định, cháu N có thời gian sinh sống cùng ông bà ngoại và học tập tại trường mầm non V, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Hiện tại cháu N đang học tập ở trường mầm non xã C, huyện C, cháu được ông bà chăm sóc và phát triển tốt. Ông bà đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
- Tại biên bản xác minh với trưởng thôn và trường mầm non xã C thể hiện cháu N đang được ông bà nội chăm sóc, cháu Ngọc h lớp 4 tuổi A từ cuối tháng 3/2024 cho đến nay, cháu N phát triển tốt.
- Người làm chứng ông Phạm Văn L1 và bà Đào Thị Thanh H1 xác định ông bà là bố mẹ đẻ của chị T. Ông bà đồng ý nhận ủy quyền của chị T chăm sóc cháu Nguyễn Bảo N, từ nhỏ cháu N ở cùng ông bà và học tập tại Phú Thọ.
- Anh Vũ Tùng D có quan điểm đồng ý nhận ủy quyền của chị T, sau khi nhận văn bản tố tụng anh đã thông báo cho chị T biết.
Tại phiên tòa chị T có mặt và trình bày quan điểm: Chị xác định hiện nay chị đã về Việt Nam sinh sống. Chị giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn với anh Đ. Về con chung, do cháu N còn nhỏ và là con gái nên chị có nguyện vọng được nuôi con, đồng thời tự nguyện không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Ông L trình bày: Hiện tại anh Đ không về được Việt Nam để tham gia phiên toà, nên anh đề nghị hoãn phiên toà để đến tháng 3 năm 2025 khi anh hết hợp đồng lao động anh sẽ về nước để giải quyết cả vấn đề quan hệ hôn nhân và quan hệ con chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh Đ đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị T được ly hôn anh Đ. Về con chung: Đề nghị giao con chung Nguyễn Bảo N cho chị Phạm Thị Thục T nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Về án phí: Chị T phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về tố tụng: Nguyên đơn chị Phạm Thị Thục T có địa chỉ trước khi xuất cảnh tại Khu F, xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Anh Nguyễn Văn Đ có địa chỉ trước khi xuất cảnh tại Thôn M, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương. Anh Đ hiện đang lao động tại Đài Loan, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Trước khi thụ lý vụ án, chị Phạm Thị Thục T và anh Nguyễn Văn Đ lao động ở Đài Loan. Cháu Nguyễn Bảo N sống cùng ông bà nội là ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị H. Anh Đ ủy quyền cho ông L, bà H chăm sóc cháu N nên Tòa án xác định ông L, bà H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án anh Đ có quan điểm xin được xét xử vắng mặt. Tuy nhiên tại phiên toà ông L trình bày, anh Đ thay đổi quan điểm, anh đề nghị hoãn phiên toà đến tháng 3 năm 2025 để chờ anh về giải quyết. Hội đồng xét xử thấy, anh Đ đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Anh đề nghị hoãn phiên toà nhưng không đưa ra được thời gian cụ thể để về tham gia phiên toà nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ.
[2]. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thục T và anh Nguyễn Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương ngày 04/5/2019, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Mặc dù chị T và anh Đ đều ở Đài Loan nhưng cả hai không quan tâm, liên lạc với nhau. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn anh Đ. Quá trình giải quyết vụ án, anh Đ cũng có quan điểm xác định vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn và đồng ý ly hôn chị T. Do vậy có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị T và anh Đ đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.
- Về con chung: Chị Phạm Thị Thục T và anh Nguyễn Văn Đ có một con chung là Nguyễn Bảo N, sinh ngày 10/8/2019. Ly hôn chị T, anh Đ đều có nguyện vọng được nuôi con. Xét thấy, cháu N có thời gian dài sinh sống cùng ông bà ngoại và học tập tại trường mầm non xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Tết năm 2024 gia đình anh Đ có đón cháu N về chơi, sau đó cháu sống cùng ông bà nội và học tại trường mầm non xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương từ cuối tháng 3/2024 cho tới nay. Thời gian chị T, anh Đ lao động ở nước ngoài, cháu N đều được ông bà nội, ngoại hai bên chăm sóc và phát triển tốt. Tại phiên tòa chị T trình bày hiện chị đã về Việt Nam và giữ nguyên nguyện vọng được nuôi con. Ông L có nguyện vọng được chăm sóc cháu N trong thời gian anh Đ không ở Việt Nam. Quá trình giải quyết vụ án anh Đ cũng có quan điểm xin được nuôi con. Xét thấy nguyện vọng nuôi con của anh Đ, chị T là chính đáng, tuy nhiên hiện nay chị T đã ở Việt Nam nên đủ điều kiện trực tiếp nuôi con. Mặt khác cháu N là con gái nên cần sự chăm sóc của mẹ nhiều hơn. Do vậy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị T, giao cháu N cho chị T nuôi dưỡng là phù hợp. Anh Đ được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3].Về án phí: Chị Phạm Thị Thục T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Thục T được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ.
- Về quan hệ con chung: Giao con chung Nguyễn Bảo N, sinh ngày 10/8/2019 cho chị Phạm Thị Thục T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Anh Nguyễn Văn Đ được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Phạm Thị Thục T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000584 ngày 10 tháng 4 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Thục T, ông Nguyễn Văn L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
- Bà Nguyễn Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 288/2024/HNGĐ-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 288/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
