|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 288/2025/HSST Ngày: 12/11/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Hùng.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Phi Hổ
2. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thuý Duyên – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 227/2025/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 266/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2025, Thông báo số 542/TB-TA ngày 29/10/2025 về việc dời ngày xét xử vụ án hình sự đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lưu Văn S. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không.
Sinh năm 1973, tại Đồng Nai.
Nơi đăng ký thường trú: 8/25A, tổ E, khu phố B, phường T, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 1/12. Nghề nghiệp: Thợ hồ. Con ông Lưu Văn L, sinh năm 1955 (đã chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1955 (đã chết). Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ là Trần Thị T, sinh năm 1974; có 02 con: lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2007;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 29/4/2025 và bị tạm giữ đến ngày 09/5/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai ban hành Quyết định huỷ bỏ quyết định tạm giữ. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Thái Văn N. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không
Sinh năm 1977, tại tỉnh An Giang.
Nơi thường trú: 603/16 ấp M, xã V, tỉnh An Giang.
Chỗ ở hiện nay: Tổ A, khu phố A, phường B, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 02/12. Nghề nghiệp: Buôn bán. Con ông Thái Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1960. Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất. Có vợ là Huỳnh Thị Trúc H2 (đã ly hôn) và có 04 con (con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2013).
Nhân thân: Ngày 07/11/1996, bị Toà án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” (theo Bản án số 190/HSPT ngày 07/11/1996). Bị cáo chấp hành xong Bản án vào ngày 29/10/2010.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 29/4/2025 và bị tạm giữ đến ngày 09/5/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai ban hành Quyết định huỷ bỏ quyết định tạm giữ. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Nguyễn Văn H3. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Út L1
Sinh năm 1972, tại Đồng Nai.
Nơi đăng ký thường trú: 8/2Đ, Tổ A, khu phố B, phường T tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 0/12. Nghề nghiệp: Buôn bán. Con ông Đặng Quới L2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H4 (đã chết). Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; có vợ là Nguyễn Thị Thúy Á, sinh năm 1972. Có 03 con sinh năm 1989, 1992 và 2002.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 29/4/2025 và bị tạm giữ đến ngày 09/5/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai ban hành Quyết định huỷ bỏ quyết định tạm giữ. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Huỳnh Văn A. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không.
Sinh năm 1983, tại tỉnh An Giang.
Nơi đăng ký thường trú: Tổ F, ấp A, xã H, tỉnh An Giang.
Chỗ ở hiện nay: Tổ A, khu phố A, phường B, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 5/12. Nghề nghiệp: Công nhân. Con ông Huỳnh Ngọc T1, sinh năm 1944 và bà Phan Thị H5, sinh năm 1950. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba; có vợ là Lê Kim H6, sinh năm 1970, có 01 con sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 29/4/2025 và bị tạm giữ đến ngày 09/5/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai ban hành Quyết định huỷ bỏ quyết định tạm giữ. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 29/04/2025, Thái Văn N, Nguyễn Văn H3 và Huỳnh Văn A đến nhà không số thuộc tổ A, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là khu phố A, phường B, tỉnh Đồng Nai) do Lưu Văn S, sinh năm 1973 làm chủ cùng nhau tổ chức ăn nhậu. Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, S rủ N, H3 và A cùng chơi đánh bài dưới hình thức “Binh xập xám” thắng thua bằng tiền.
Hình thức đánh bài: Người chơi sử dụng một bộ bài tây 52 lá, chia đều cho mỗi người chơi 13 lá bài, mỗi người cầm cái chia bài một ván xoay vòng, người làm cái sẽ ăn thua trực tiếp với 03 người còn lại. Sau đó, người chơi sắp sếp bài (binh bài) thành 03 chi: 05 lá bài cho chi một, 05 lá bài cho chi hai và 03 lá bài cho chi ba, sắp xếp sao cho chi một mạnh hơn chi hai và chi hai mạnh hơn chi ba, nếu không sẽ tính là binh lủng, đồng nghĩa với thua bài. Sau khi binh bài xong, người làm cái lật bài của ba người còn lại và so sánh kết quả với ba người chơi. Nếu trong tổng số 03 chi bài, thắng được 02 chi thì tính là thắng và ngược lại; người chơi nào thắng 01 chi, thua 01 chi và hòa 01 chi thì tính là hòa. Trong mỗi ván bài nếu người làm cái thắng của người chơi nào thì được người đó chung chi trả số tiền 500.000VND (năm trăm nghìn đồng) và ngược lại. Nếu mậu binh thì ván bài đó "thắng", mậu binh được tính nếu có: tứ quý, 06 đôi, ba sảnh, ba thùng, thùng phá sảnh. Ván bài kết thúc khi người chơi so bài và trả tiền thắng thua với người làm cái xong thì sẽ tiến hành cho ván bài tiếp theo. Đến khoảng 22 giờ 10 phút cùng ngày trong lúc S, N, H3, A đang đánh bạc thì bị công an phường H bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 26.000.000 đồng (Hai mươi sáu triệu đồng) là tiền các bị can dùng vào việc đánh bạc và 01 bộ bài tây 52 lá.
Các đối tượng khai nhận dùng số tiền đánh bạc từng người cụ thể như sau:
- - Lưu Văn S mang theo 21.000.000 đồng (hai mươi mốt triệu đồng) dùng 8.000.000 đồng (tám triệu đồng) để đánh bạc.
- - Thái Văn N mang theo 41.000.000 đồng (bốn mươi mốt triệu đồng) và dùng 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để đánh bạc.
- - Nguyễn Văn H3 mang theo 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) dùng hết để đánh bạc.
- - Huỳnh Văn A mang theo 9.000.000 đồng (chín triệu đồng) và dùng hết để đánh bạc.
* Vật chứng được thu giữ gồm:
- - 01 bộ bài tay 52 lá.
- - Thu giữ trên chiếu bạc 26.000.000 đồng (hai mươi sáu triệu đồng) là số tiền để trên chiếu bạc dùng để đánh bạc.
- - Thu giữ số tiền 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng) của Lưu Văn S không liên quan đến hành vi đánh bạc.
- - Thu giữ số tiền 36.000.000 đồng (ba mươi sáu triệu đồng) của Thái Văn N không liên quan đến hành vi đánh bạc và 01 chiếc xe mô tô kiểu dáng wave màu đen, biển số 60B1-787.60. Qua điều tra xác minh, chiếc xe không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh Đ đã trả lại cho Thái Văn N.
- - Thu giữ 01 chiếc xe mô tô kiểu dáng wave màu đen, biển số 60B1-061.81 của Nguyễn Văn H3. Qua điều tra xác minh, chiếc xe không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh Đ đã trả lại cho Nguyễn Văn H3.
- - Thu giữ 01 điện thoại di động hiệu OPPO Renno8 Z 5G màu đen, số I: 868062060798506 và 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh biển số 67L2-153.62 của Huỳnh Văn A. Qua điều tra xác minh, chiếc xe không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh Đ đã trả lại cho Huỳnh Văn A.
* Tại cáo trạng số 219/CT-VKSKV1-HS ngày 26 tháng 9 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai truy tố các bị cáo: Lưu Văn S, Thái Văn N, Nguyễn Văn H3 và Huỳnh Văn A, về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên toà, các bị cáo Lưu Văn S, Thái Văn N, Nguyễn Văn H3 và Huỳnh Văn A khai nhận hành vi như đã khai tại cơ quan điều tra, công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố các bị cáo về tội danh nêu trên là đúng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đồng Nai tham gia phiên tòa trình bày luận tội nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo điều khoản và tội danh như đã nêu trên; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho các bị cáo như sau:
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lưu Văn S, Nguyễn Văn H3, Huỳnh Văn A phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo Thái Văn N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã ly hôn vợ đang ở với mẹ già, con nhỏ và là lao động chính trong gia đình, đây các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt các bị cáo: Lưu Văn S, Nguyễn Văn H3, Huỳnh Văn A cùng mức án từ 08 đến 10 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Thái Văn N từ 10 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 1- Đồng Nai:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tây 52 lá.
- - Tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền: 26.000.000 đồng (Hai mươi sáu triệu đồng) thu trên chiếu bạc các đối tượng sử dụng đánh bạc.
- - Tạm giữ số tiền 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng) của Lưu Văn S để đảm bảo thi hành án.
- - Tạm giữ số tiền 36.000.000 đồng (ba mươi sáu triệu đồng) của Thái Văn N để đảm bảo thi hành án.
Tại phiên tòa, các bị cáo Lưu Văn S, Thái Văn N, Nguyễn Văn H3 và Huỳnh Văn A không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với bản luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng các bị cáo đã nhận thức hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
- Về án phí: Bị cáo Lưu Văn S, Thái Văn N, Nguyễn Văn H3 và Huỳnh Văn A, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về tội danh và khung hình phạt:
Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở xác định:
Từ khoảng 21 giờ 00 đến 22 giờ 10 phút ngày 29/04/2025, tại nhà không số thuộc tổ A, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là khu phố A, phường B, tỉnh Đồng Nai) Lưu Văn S rủ Thái Văn N, Nguyễn Văn H3 và Huỳnh Văn A cùng thực hiện hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền, với hình thức “Binh xập xám”. Lưu Văn S sử dụng số tiền 8.000.000 đồng; Thái Văn N sử dụng số tiền 5.000.000 đồng; Nguyễn Văn H3 sử dụng 4.000.000 đồng và Huỳnh Văn A sử dụng 9.000.000 đồng để đánh bạc. Trong lúc S, N, H3, A đang đánh bạc thì bị Công an phường H bắt quả tang cùng tang vật. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 26.000.000 đồng (Hai mươi sáu triệu đồng).
Hành vi của các bị cáo Lưu Văn S, Thái Văn N, Nguyễn Văn H3 và Huỳnh Văn A nêu trên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đồng Nai đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo:
Hành vi của các bị cáo tuy là ít nghiêm trọng, nhưng vi phạm pháp luật hình sự, đã xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng, gây mất trật tự xã hội tại địa phương, làm gia tăng tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc đánh bạc dưới mọi hình thức thắng thua bằng tiền nhằm sát phạt lẫn nhau đều vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích ham lợi nhuận mà các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm tương xứng, với tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Vai trò đồng phạm trong vụ án:
Xét vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, cấu thành không có tổ chức, các bị cáo S, N, H3, A là những người trực tiếp và tích cực thực hiện hành vi phạm tội “Đánh bạc” và cùng giữ vai trò như nhau trong vụ án. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đến số tiền mà các bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo để phân hóa tội phạm và quyết định mức hình phạt tương xứng đối với từng bị cáo.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tất cả các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, tất cả các bị cáo đều tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lưu Văn S, Nguyễn Văn H3 và Huỳnh Văn A phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Ngoài lần phạm tội này, các bị cáo được xác định đều không có tiền án, tiền sự; bị cáo N hiện là lao động chính trong gia đình, đã ly hôn vợ và sống cùng 04 người con ở phòng trọ, trong đó có 01 con nhỏ đang đi học, hàng tháng phụ cấp cho mẹ già (có xác nhận của địa phương), nên bị cáo N được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Do đó, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[7] Về quyết định hình phạt:
Xét thấy, các bị cáo Lưu Văn S, Thái Văn N, Nguyễn Văn H3 và Huỳnh Văn A đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đều có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này, các bị cáo chấp hành tốt chính sách, pháp luật của nhà nước, trong thời gian tại ngoại không vi phạm pháp luật, đã có thời gian bị tạm giữ nhất định, có khả năng tự cải tạo và việc không bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù không gây nguy hiểm cho xã hội, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội. Căn cứ Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 về hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với các bị cáo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật, để tạo cơ hội cho các bị cáo tiếp tục học tập, tự cải tạo bản thân, giao cho chính quyền địa phương nơi cư trú của các bị cáo giám sát, giáo dục thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Ngoài ra, để đảm bảo tính nghiêm minh, cũng cần áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với các bị cáo với mức phạt tiền phù hợp, đủ sức răn đe và phòng ngừa chung.
[6] Về xử lý vật chứng trong vụ án:
- - Đối với 01 bộ bài tay 52 lá là công cụ sử dụng để đánh bạc; Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với số tiền 26.000.000 đồng (Hai mươi sáu triệu đồng) thu trên chiếu bạc là tiền của các bị cáo sử dụng đánh bạc. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
- - Đối với số tiền 49.000.000đ thu giữ trên người của các bị cáo, gồm: của Lưu Văn S 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng), của Thái Văn N 36.000.000 đồng (ba mươi sáu triệu đồng). Cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Toàn bộ số vật chứng nêu trên được bàn giao theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/9/2025 và biên lai thu tiền số 0000857 ngày 07/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai).
- - Đối với: 01 chiếc xe mô tô kiểu dáng wave màu đen, biển số 60B1-061.81 của Nguyễn Văn H3, qua điều tra xác minh, chiếc xe không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại cho H3; 01 điện thoại di động hiệu OPPO Renno8 Z 5G màu đen, số I: 868062060798506 và 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh biển số 67L2-153.62 của Huỳnh Văn A, qua điều tra xác minh, chiếc xe không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại cho A. Nên không đặt ra giải quyết.
[7] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
[8] Đối với phần trình bày và đề nghị mức hình phạt các bị cáo của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đồng Nai tại phiên tòa, xét thấy tương đối phù hợp với những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét và quyết định trong vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh:
- Về hình phạt:
- Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 về hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 về hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Trong trường hợp bị cáo Lưu Văn S, Thái Văn N, Nguyễn Văn H3 và Huỳnh Văn A thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
- Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về xử lý vật chứng trong vụ án: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tay 52 lá đã qua sử dụng;
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 26.000.000 đồng (Hai mươi sáu triệu đồng). Trong đó của: Lưu Văn S 8.000.000 đồng, Thái Văn N 5.000.000 đồng, Nguyễn Văn H3 4.000.000 đồng và Huỳnh Văn A 9.000.000 đồng.
- - Tiếp tục tạm giữ số tiền 49.000.000đ. Trong đó: của Lưu Văn S 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng), của Thái Văn N 36.000.000 đồng (ba mươi sáu triệu đồng). Để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Về việc thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Tuyên bố các bị cáo: Lưu Văn S, Thái Văn N, Nguyễn Văn H3 và Huỳnh Văn A phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt: Lưu Văn S 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Phạt bổ sung bị cáo Lưu Văn S 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Xử phạt: Nguyễn Văn H3 10 (mười) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 20 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn H3 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Xử phạt: Huỳnh Văn A 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Phạt bổ sung bị cáo Huỳnh Văn A 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Xử phạt: Thái Văn N (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Phạt bổ sung bị cáo Thái Văn N 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo Lưu Văn S, Thái Văn N, Nguyễn Văn H3 và Huỳnh Văn A cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
(Toàn bộ số vật chứng nêu trên được bàn giao theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/9/2025 và biên lai thu tiền số 0000857 ngày 07/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai).
Buộc các bị cáo Lưu Văn S, Thái Văn N, Nguyễn Văn H3 và Huỳnh Văn A; Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
|
Trần Văn Hùng |
Bản án số 288/2025/HSST ngày 12/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI về vụ án hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 288/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo: Lưu Văn Sơn, Thái Văn Nhựt, Nguyễn Văn Hải và Huỳnh Văn An phạm tội “Đánh bạc”. 2. Về hình phạt: 2.1. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 về hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); - Xử phạt: Lưu Văn Sơn 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Trấn Biên, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Phạt bổ sung bị cáo Lưu Văn Sơn 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước. - Xử phạt: Nguyễn Văn Hải 10 (mười) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 20 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Trấn Biên, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn Hải 10.000.000đ (Mười triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước. - Xử phạt: Huỳnh Văn An 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Phạt bổ sung bị cáo Huỳnh Văn An 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước. 2.2. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 về hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); - Xử phạt: Thái Văn Nhựt 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Phạt bổ sung bị cáo Thái Văn Nhựt 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước. 2.2. Trong trường hợp bị cáo Lưu Văn Sơn, Thái Văn Nhựt, Nguyễn Văn Hải và Huỳnh Văn An thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo Lưu Văn Sơn, Thái Văn Nhựt, Nguyễn Văn Hải và Huỳnh Văn An cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
