Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 288/2024/DS-ST

Ngày 26-11-2024

V/v tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sắc Ly

Các Hội thẩm nhân nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Kiệt.
  2. Bà Lê Thị Thu Yến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trạng - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 451/2024/TLST- DS, ngày 10/10/2024 về tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 316/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: NGUYỄN NGỌC N, sinh năm 1983.

Địa chỉ : F Tổ C, khu Phố B, L, phường F, thành Phố M, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Ngọc Á, sinh năm 1962 (có mặt).

Địa chỉ: F Tổ C, khu Phố B, L, phường F, thành Phố M, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: NGUYỄN THỊ BÍCH T, sinh năm 1966 (Xin vắng mặt).

Địa chỉ: 6 L, phường F, tp M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Đại diện ủy quyền nguyên đơn Nguyễn Ngọc N là Nguyễn Ngọc Á trình bày:

Vào ngày 07 tháng 06 năm 2023 Âm Lịch, bà Bích T có tổ chức khui 1 dây hụi 1.000.000 đồng, bao gồm 17 phần. Giá trị tiền hụi góp mỗi tháng là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng/tháng).

Trong dây hụi này, N đã tham gia 02 phần, tương đương số tiền góp cho bà T là khoản 2.000.000 đồng mỗi tháng.

Từ ngày 07 tháng 06 năm 2023 Âm Lịch đến ngày 07 tháng 01 năm 2024 Â, N đã đóng cho bà T tổng cộng là: 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng).

Thời gian sau này, do N muốn hốt hụi để sử dụng cho việc riêng nên N luôn có ý bỏ giá cao, nhưng lần nào bà Bích T cũng luôn tìm mọi lí do để N không thể hốt hụi được.

Nhận thấy bà T có dấu hiệu muốn giật hụi, chiếm đoạt phần tiền mà N đã đóng bao lâu nay, nên N đã trao đổi trực tiếp với bà T nhưng bà không muốn giải quyết cho yêu cầu của N.

Do là chỗ quen biết với nhau đã lâu, nên khi tổ chức dây hụi bà T không có đưa giấy tờ gì. Khi đưa tiền cho bà T, không có nhận lại được biên nhận tiền đã đóng nên khi sự việc xảy ra không có chứng cứ bằng giấy tờ. Đến khi ra khu phố hoà giải, bà T thừa nhận số tiền thiếu Nguyệt tiền hụi là 14.000.000 đồng.

Bà T nói khi nào có tiền thì trả và xin trả góp từ từ chứ không có thời gian cụ thể khi nào sẽ trả số tiền đã thiếu cho N. Nguyệt không đồng ý.

Yêu cầu giải quyết: Yêu cầu bà T trả cho N số tiền 14.000.000 đồng, tiền hụi mà N đã đóng. Yêu cầu trả ngay, không chấp nhận trả dần.

Tại biên bản hòa giải bà N trình bày xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bà T trả cho N số tiền 11.200.000 đồng, đã đóng hụi sống cho bà T vì hụi bể. Yêu cầu trả ngay, không chấp nhận trả dần.

*Bị đơn Nguyễn Thị Bích T có bản khai trình bày như sau: Theo đơn khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc N yêu cầu Nguyễn Thị Bích T trả cho bà N số tiền 14.000.000 đồng, của dây hụi ngày 07/6/2023 âm lịch do bà T làm chủ hụi, không yêu cầu tính lãi. Nay bà trình bày sự việc như sau:

Về số tiền 14.000.000 đồng bà N yêu cầu trả nợ. Bà không đồng ý số tiền 14.000.000 đồng mà bà N yêu cầu bà phải trả cho bà N. Bởi vì: Số tiền hụi sống bà N mỗi tháng đóng vào dây hụi ngày 07/6/2023 âm lịch là 800.000 đồng/phần hụi x 02 phần x 7 tháng = 11.200.000 đồng. Sau đó, hụi bị bể do hụi viên không đóng hụi, nên bà xác định số tiền vốn mà bà N đã đóng là 11.200.000 đồng. Bà đồng ý trả cho bà Nguyễn Ngọc N số tiền hụi là 11.200.000 đồng, xin trả mỗi tháng 200.000 đồng cho đến khi hết số nợ, không trả lãi. Về Biên bản hòa giải khu phố lập ngày 28/5/2024: Tại Biên bản hòa giải khu phố lập ngày 28/5/2024 ghi nhận bà có đồng ý số nợ 14.000.000 đồng là không đúng. Nay bà xác định lại còn nợ số tiền hụi sống của bà N đã đóng vào dây hụi ngày 07/6/2023 âm lịch là 11.200.000 đồng/02 phần, xin trả mỗi tháng 200.000 đồng cho đến khi hết số nợ như đã nêu trên.

Với lý do trên, nay: Bà không đồng ý số tiền nợ hụi là 14.000.000 đồng, do bà không có nợ bà N số tiền này. Bà đồng ý trả cho bà Nguyễn Ngọc N số tiền hụi sống bà N đã đóng là 11.200.000 đồng, xin trả mỗi tháng 200.000 đồng cho đến khi hết số nợ, không trả lãi.

Tại phiên tòa:

Bà Nguyễn Ngọc Á đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày, thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà T trả cho N số tiền 11.200.000 đồng. Yêu cầu trả ngay, không chấp nhận trả dần.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi thẩm tra xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nghe lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn Nguyễn Ngọc N khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn Nguyễn Thị Bích T trả số tiền hụi đã đóng. Bị đơn Nguyễn Thị Bích T có nơi cư trú tại thành phố M. Căn cứ Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Hợp đồng góp hụi”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Bị đơn Nguyễn Thị Bích T có đơn xin vắng mặt. Hội đồng xét xử, áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền 11.200.000 đồng. Xét yêu cầu trên là tự nguyện và phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên được chấp nhận.

[2] Về yêu cầu của đương sự và nội dung vụ án: Nguyên đơn yêu cầu Nguyễn Thị Bích T trả số tiền hụi sống đã đóng là 11.200.000 đồng và không đồng ý cho trả dần.

[3] Xét thấy, nguyên đơn cho rằng có tham gia dây hụi mở vào ngày 07 tháng 06 năm 2023 Âm Lịch, hụi 1.000.000 đồng, bao gồm 17 phần, nguyên đơn đã tham gia 02 phần, do tin tưởng nên khi tham gia hụi do bị đơn làm chủ thì không xin thông tin danh sách hụi viên. Tuy nhiên, có cung cấp cho Tòa án được chứng cứ là tại biên bản hòa giải của Ủy ban nhân dân xã T thì bà T có thừa nhận còn nợ số tiền hụi của bà Nguyễn Thị Ngọc N là 14.000.000 đồng. Ngoài ra, bị đơn cũng có ý kiến thừa nhận còn thiếu nợ hụi của nguyên đơn nhưng cho rằng chỉ nợ lại 11.200.000 đồng vì hụi của N đóng là hụi còn sống nên số tiền thực đóng là 11.200.000 đồng, và cũng thừa nhận nội dung hòa giải ngày 28/5/2024 đã thừa nhận số tiền 14.000.000 đồng nợ hụi, nhưng cho rằng số tiền trên là không chính xác. Phía nguyên đơn, cũng cho rằng chỉ đóng hụi sống nên số tiền thực đóng mỗi tháng là 800.000 đồng/phần, cụ thể nguyên đơn đóng hụi từ ngày 07 tháng 06 năm 2023 Âm Lịch đến ngày 07 tháng 01 năm 2024 Âm là 7 tháng x 1.600.000.000 đồng/tháng, với số tiền 11.200.000 đồng. Do đó, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền hụi 11.200.000 đồng, là phù hợp với chứng cứ trong hồ sơ và cũng phù hợp với thừa nhận của hai bên. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Xét yêu cầu của bị đơn xin trả dần số tiền trên, mỗi tháng trả 200.000 đồng. Yêu cầu này không được bị đơn đồng ý. Nên không có căn cứ cho Hội đồng xét xử xem xét.

[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 166, Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 92, 94, Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc N.

    Buộc bà Nguyễn Thị Bích T có trách nhiệm trả cho chị Nguyễn Ngọc N số tiền hụi 11.200.000 đồng (Mười một triệu hai trăm nghìn đồng).

  2. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bích T phải chịu 560.000 đồng án phí dân sự có giá ngạch.

    H lại cho chị Nguyễn Ngọc N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 350.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0006827 ngày 10/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

  4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Ngọc N có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị Bích T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TP Mỹ Tho;
  • - Chi cục THADS TP Mỹ Tho;
  • - Lưu hồ sơ vụ án. (10b)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Sắc Ly

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 288/2024/DS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 288/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” giữa Nguyễn Ngọc N và Nguyễn Ngọc A
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger