Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 288/2024/DS-PT

Ngày 26-6-2025

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tòng.

Các Thẩm phán:

  1. Ông Hồ Văn Cường;
  2. Ông Hà Chí Quốc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Anh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

Ông Bùi Quốc Việt, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 128/2025/TLPT-DS ngày 13 tháng 5 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 27/2025/DS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân Thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 195/2025/QĐ-PT ngày 19 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số: 91/2025/QĐ-PT ngày 11-6-2025; Thông báo số: 26/TA-TB ngày 16-6-2025 về việc thay đổi ngày xét xử; giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Đỗ Văn H, bà Trần Thị Thanh L, sinh năm 1962; bà Trần Thị Thanh L, sinh năm 1962; nơi cư trú: Số D, hẻm S, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
  2. Bị đơn: Bà Trần Hồ Thanh T, sinh năm 1966; nơi cư trú: Số A, hẻm S, đường L, Khu phố F, Phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Anh Hồ Trần Minh M, sinh năm 1989; nơi cư trú: Số A, hẻm S, đường L, Khu phố F, Phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
    2. Chị Hồ Trần Khánh V, sinh năm 1998; nơi cư trú: Số A, hẻm S, đường L, Khu phố F, Phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
  4. Người kháng cáo: Ông Đỗ Văn H, bà Trần Thị Thanh L; là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 25 tháng 8 năm 2024 đơn khởi kiện bổ sung ngày 17 tháng 10 năm 2024 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn ông Đỗ Văn H, bà Trần Thị Thanh L trình bày:

Bà Trần Hồ Thanh T là em ruột của bà Trần Thị Thanh L; anh Hồ Trần Minh M, chị Hồ Trần Khánh V là con ruột của bà T. Bà T, anh M, chị V có đến nhà vay tiền của vợ chồng ông bà, cụ thể như sau:

  • Ngày 10-8-2023 vay số tiền 500.000.000 đồng, hẹn đến ngày 10-8-2024 hoàn trả, hai bên thỏa thuận lãi suất là 2%/tháng; có thế chấp 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DL 998829 và số DL 983442, do chị V đứng tên để đảm bảo khoản vay (hiện nay ông bà đang giữ bản gốc); ông bà giao tiền trực tiếp cho bà T, anh M và chị V; có làm “Giấy mượn tiền”, mẫu giấy của ông bà; bà T viết vào phần để trống, ký tên giao cho ông bà giữ; có anh Hồ Trần Minh M ký tên.
  • Ngày 10-3-2024 vay thêm số tiền 500.000.000 đồng, bà T viết giấy xác nhận nợ tổng cộng số tiền 1.000.000.000 đồng, có bà T và chị V ký tên.

Theo được biết thì bà T, anh M, chị V vay tiền để hùn vốn cổ phần vào công ty M2, kinh doanh. Anh M, chị V cùng sinh sống tại nhà của bà T.

Tại phiên tòa sơ thẩm ông H, bà L trình bày: Từ ngày 10-8-2023 đến tháng 3 năm 2024 đã nhận được tiền lãi là 70.000.000 đồng của số tiền vay 500.000.000 đồng; từ tháng 4 năm 2024 đến tháng 7 năm 2024 đã nhận được tiền lãi là 95.000.000 đồng của số tiền vay 1.000.000.000 đồng; tổng số tiền lãi ông bà đã nhận là 165.000.000 đồng.

Nay khởi kiện yêu cầu: Bà T, anh M, chị V có trách nhiệm trả số tiền nợ gốc 1.000.000.000 và tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm từ ngày 25-8-2024 cho đến ngày xét xử sơ thẩm. Ông, bà không đồng ý trả bản chính 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Hồ Trần Khánh V vì chị V cũng phải có trách nhiệm trả nợ cho ông, bà.

Tại Bản tường trình đề ngày 09-02-2025 gửi qua dịch vụ bưu chính (bút lục số 84), chị Hồ Trần Khánh V trình bày:

Chị không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu ông H, bà L trả lại 02 bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị.

Bị đơn là bà Trần Hồ Thanh T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Hồ Trần Minh M; đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 27/2025/DS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân Thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, đã quyết định:

Căn cứ vào Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 9 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019; Điều 12 và Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  • Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn H và bà Trần Thị Thanh L đối với bà Trần Hồ Thanh T về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
  • Buộc bà Trần Hồ Thanh T cùng có nghĩa vụ trả cho ông Đỗ Văn H và bà Trần Thị Thanh L tổng cộng số tiền là 1.018.489.981 đồng (một tỷ, không trăm mười tám triệu, bốn trăm tám mươi chín nghìn, chín trăm tám mươi mốt đồng), trong đó: Tiền nợ gốc: 973.946.648 đồng, tiền lãi: 44.543.333 đồng.

  • Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn H và bà Trần Thị Thanh L đối với anh Hồ Trần Minh M và chị Hồ Trần Khánh V về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
  • Ông Đỗ Văn H và bà Trần Thị Thanh L có nghĩa vụ trả cho chị Hồ Trần Khánh V 02 (hai) bản chính giấy đất sau: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL 998829, số vào sổ cấp GCN: VP16253 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T cấp ngày 30/6/2023 cấp do chị Hồ Trần Khánh V đứng tên sử dụng và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL 983442, số vào sổ cấp GCN: CN16251 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 11/7/2023 do chị Hồ Trần Khánh V đứng tên sử dụng.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo; quyền, nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.

Ngày 24-3-2025 ông Đỗ Văn H, bà Trần Thị Thanh L kháng cáo với nội dung: Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Buộc bà Trần Hồ Thanh T, anh Hồ Trần Minh M và chị Hồ Trần Khánh V có trách nhiệm trả số tiền 1.018.489.981 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 973.946.648 đồng và 44.543.333 đồng tiền lãi.

- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

  • Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án và quyết định đưa vụ án ra xét xử bảo đảm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
  • Về nội dung: Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng tuyên chị V có nghĩa vụ liên đới cùng bà T trả nợ cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm phù hợp với quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự bà Trần Hồ Thanh T, anh Hồ Trần Minh M, chị Hồ Trần Khánh V.

[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn về việc yêu cầu anh M và chị V chịu nghĩa vụ liên đới cùng bà T trả số tiền 1.018.489.981 đồng, thấy rằng:

[2.1] Nguyên đơn xác định “Giấy mượn tiền” (bút lục số 62) (gọi tắt là Mặt trước) là của mình đánh máy soạn sẵn trước; bà T là người viết vào phần trống của mẫu văn bản, các nội dung: Thời gian vay tiền ngày 10-8-2023, Trần Hồ Thanh T vay số tiền 500.000.000 đồng, mức lãi suất 2%, thời hạn trả; tại dòng đánh máy “Tôi có thế chấp lại”: Bà T viết “2 CQ Đất mang tên con gái là Hồ Trần Khánh V, CCCD [...]” và đồng thời ký tên dưới mục chữ đánh máy “Người mượn tiền”; anh Hồ Trần Minh M ký tên dưới mục chữ đánh máy “Người làm chứng”; không có chị Hồ Trần Khánh V ký tên.

[2.2] Mặt sau của “Giấy mượn tiền” trên có nội dung: Bà T vay thêm số tiền 500.000.000 đồng và xác nhận nợ số tiền vay tổng cộng là 1.000.000.000 đồng, vào ngày 10-3-2024, bà T ký tên tại góc phải; góc trái của văn bản chị V viết và ký tên nội dung: “Con: Hồ Trần Khánh V đã đọc và đồng ý số CCCD: 0721980002782 SĐT: 0933.619.xxx” (gọi tắt là Mặt sau); không có anh Hồ Trần Minh M ký tên.

[2.3] Như vậy, tại Mặt trước và M1 sau trong văn bản “Giấy mượn tiền” nêu trên, không có bất kỳ nội dung nào thể hiện anh M xác nhận có vay tiền của nguyên đơn cùng với bị đơn; anh M chỉ ký tên tại mục “Người làm chứng” của Mặt trước; Mặt sau không ký; mặc khác nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ thể hiện anh M cùng bà T là một bên giao kết 02 hợp đồng vay tài sản, cùng thực hiện hợp đồng vay tài sản, cùng cam kết trả nợ; do đó, nguyên đơn yêu cầu anh M, có nghĩa vụ dân sự và nghĩa vụ liên đới theo quy định tại các Điều 274, 275, 288 của Bộ luật Dân sự là không có căn cứ chấp nhận.

[2.4] Xét thấy: Hợp đồng vay tài sản diễn ra 02 lần vào ngày 10-8-2023 và ngày 10-3-2024 nhưng được thể hiện trên một “Giấy mượn tiền”, nội dung được ghi nhận ở Mặt trước và M1 sau có mối liên hệ không tách rời với nhau đó là có tình tiết, sự kiện bị đơn giao 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chị V làm tin để nguyên đơn cho vay tiền và có cơ sở khẳng định chị V biết mẹ ruột là bà T vay của ông H, bà L số tiền 1.000.000.000 đồng và đồng ý giao bản chính 02 giấy đất của chị V cho ông H, bà L để làm tin đảm bảo việc trả nợ; khẳng định này hoàn toàn có căn cứ bởi các đương sự trong vụ án đều có quan hệ họ hàng với nhau, đồng thời được thể hiện rõ nét bằng nội dung chị V viết, ký tên: “Con: Hồ Trần Khánh V đã đọc và đồng ý số CCCD: 0721980002782 SĐT: 0933.619.xxx” tại Mặt sau của “Giấy mượn tiền”. Nên việc nguyên đơn trình bày do chị V đã đồng ý thế chấp 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng nên nguyên đơn mới cho bà T vay tiền là có cơ sở chấp nhận. Do đó, căn cứ vào các Điều 274, 275, 288, 335 của Bộ luật Dân sự cần buộc chị V cùng có nghĩa vụ liên đới trả nợ cùng bà T.

[3] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án dân sự sơ thẩm như đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.

[4] Do sửa bản án, Tòa án cấp phúc thẩm xác định lại nghĩa vụ chịu án phí:

Căn cứ Điều 12, Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; cụ thể:

[4.1] Ông Đỗ Văn H, bà Trần Thị Thanh L không phải chịu án dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.

[4.2] Bà Trần Hồ Thanh T và chị Hồ Trần Khánh V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạnh là 42.554.699 đồng; tương ứng với nghĩa vụ đối với số tiền 1.018.489.981 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự:

  • Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn.
  • Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 27/2025/DS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ các Điều 274, 275, 288, 335, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự; Điều 9 của Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; các Điều 147, 148, 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 12, 26, 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn H, bà Trần Thị Thanh L đối với bà Trần Hồ Thanh T và chị Hồ Trần Khánh V về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
  2. Bà Trần Hồ Thanh T và chị Hồ Trần Khánh V có trách nhiệm liên đới trả cho ông Đỗ Văn H và bà Trần Thị Thanh L số tiền 1.018.489.981 (một tỷ không trăm mười tám triệu bốn trăm tám mươi chín ngàn chín trăm tám mươi mốt) đồng; trong đó, bao gồm: Nợ gốc là 973.946.648 (chín trăm bảy mươi ba triệu chín trăm bốn mươi sáu ngàn sáu trăm bốn mươi tám) đồng và tiền lãi là 44.543.333 (bốn mươi bốn triệu năm trăm bốn mươi ba ngàn ba trăm ba mươi ba) đồng.

  3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  4. Ông Đỗ Văn H và bà Trần Thị Thanh L có nghĩa vụ trả cho chị Hồ Trần Khánh V bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T cấp ngày 30-6-2023, số phát hành DL 998829, số vào sổ cấp GCN: VP16253, mang tên Hồ Trần Khánh V và bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 11-7-2023, số phát hành DL 983442, số vào sổ cấp GCN: CN16251, mang tên Hồ Trần Khánh V.
  5. Về án phí:
    1. Bà Trần Hồ Thanh T và chị Hồ Trần Khánh V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 42.554.699 (bốn mươi hai triệu năm trăm năm mươi bốn ngàn sáu trăm chín mươi chín) đồng.
    2. Ông Đỗ Văn H và bà Trần Thị Thanh L không phải chịu án dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND. TTN;
  • - TAND TP Tây Ninh;
  • - Chi cục THADS TP Tây Ninh;
  • - Phòng TTKTNV&THA. TATTN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Tòng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 288/2024/DS-PT ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 288/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger