|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4-AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 287/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27-11-2025
V/v: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Cao Minh Trung
- Bà Mai Thị Lý
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Diệp – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - An Giang tham gia phiên tòa: Không.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 206/2025/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2025, về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1979. CCCD số: [...]
- Bị đơn: Ông Ngô Công B, sinh năm 1976. CCCD số: [...]
Các đương sự cùng địa chỉ: Ấp V, xã B, tỉnh An Giang.
(Các đương sự đều vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Bà và ông Ngô Công B tự tìm hiểu và tiến tới hôn nhân năm 1999, hai bên có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B vào ngày 02/10/2002. Trong thời gian chung sống, anh chị sinh được 03 người con chung tên Ngô Thị Cẩm T, sinh năm 2000; Ngô Công Hải Đ, sinh năm 2002 và Ngô Thị Mỹ D, sinh năm 2009. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do anh B có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, từ đó thường xuyên xảy ra bất hoà trong gia đình. Ông bà đã sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay. Nhận thấy, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Nay bà H yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông B.
- Về con chung: Bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi 01 con chung chưa đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông Bằng cấp D1 nuôi con.
- Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Ngô Công B trình bày tại Bản ý kiến ngày 12/11/2025 như sau:
Ông và bà Nguyễn Thị H kết hôn vào năm 1999, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B. Ông bà có 03 con chung tên Ngô Thị Cẩm T, Ngô Công Hải Đ và Ngô Thị Mỹ D. Hiện nay 02 đứa lớn đã trưởng thành, còn Ngô Thị Mỹ D đang ở với mẹ.
Nay ông đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị H, không muốn Toà án hoà giải. Ông đồng ý giao con cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng và sẽ cấp dưỡng nuôi con tuỳ theo khả năng của ông.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Các đương sự đều có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử giải quyết vụ án.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu ly hôn của bà H, HĐXX nhận định: Bà Nguyễn Thị H và ông Ngô Công B lấy nhau có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, giấy đăng ký kết hôn ngày 02/10/2002 tại UBND xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang (nay là UBND xã B, tỉnh An Giang). Như vậy, việc kết hôn của ông bà đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên đây là quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc. Tuy nhiên dần dần ông bà bất đồng quan điểm, không còn có tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân. Vì vậy, ông bà đã sống ly thân từ nhiều năm nay.
Xét thấy, mối quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng thiếu sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau để cùng nhau xây dựng mái ấm gia đình tiến bộ và hạnh phúc. Hơn nữa, việc chung sống vợ chồng là phát sinh từ sự tự nguyện của hai bên, nay bà H xác định không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân với ông B và ông B cũng đồng ý ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H.
[2.2] Về con chung: Ông bà có 03 con chung, trong đó 02 con đã trưởng thành tự lo cho cuộc sống riêng nên Toà án không xem xét giải quyết. Riêng cháu Ngô Thị Mỹ D còn trong độ tuổi vị thành niên. Bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi con.
Xét thấy, bị đơn ông Ngô Công B có văn bản đồng ý giao con cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng, không có tranh chấp về việc nuôi con nên HĐXX ghi nhận, chấp nhận yêu cầu của bà H về việc nuôi con Ngô Thị Mỹ D.
Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không có yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung: Các đương sự tự thoả thuận.
[2.3] Về nợ chung: Không có
Từ những nhận định trên, sau khi thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H.
[3]. Về án phí sơ thẩm: Bà H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng)
[4]. Về quyền kháng cáo của đương sự: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Ngô Công B.
- Về con chung:
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh An Giang theo biên lai thu số 0005840 ngày 23 tháng 10 năm 2025. Bà H không phải nộp thêm.
Giao cho bà Nguyễn Thị H được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Ngô Thị Mỹ D, sinh năm 2009 đến khi con đủ tuổi trưởng thành.
Trong thời gian bà H nuôi dưỡng con chung, ông B có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Án xử công khai. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán – C Phiên Tòa Nguyễn Thị Cúc |
Bản án số 287/2025/HNGĐ-ST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - AN GIANG về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 287/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP LY HÔN GIỮA NGUYỄN THỊ HIỀN - NGÔ CÔNG BẰNG
