TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 287/2024/HNGĐ-ST Ngày 30-9-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Trần Thị Vân Thúy |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Thanh Hải |
| Bà Nguyễn Thị Luyến | |
| Thư ký phiên tòa: | Bà Nguyễn Minh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng. |
| Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: | Bà Đỗ Thu Hương - Kiểm sát viên. |
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 206/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 264/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 07 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 141/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Vũ Thị L; nơi thường trú: Thôn C, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Bá H; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng, hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài; vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn là chị Vũ Thị L trình bày:
Chị và anh Nguyễn Bá H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, Hải Phòng ngày 25/7/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm và lối sống. Dù cả hai bên đã cố gắng nhưng mâu thuẫn không thể hàn gắn, vợ chồng không có khả năng đoàn tụ. Sau đó anh H đi lao động ở nước ngoài, khoảng cách vợ chồng xa xôi nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Về địa chỉ cụ thể của anh H tại Đài Loan, chị L không nắm được chỉ biết anh H vẫn liên lạc về cho gia đình là chị gái Nguyễn Thị H1 đang cư trú tại Số nhà B ngõ G đường Đ, thị trấn N, huyện T, thành phố Hải Phòng. Đến nay, chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Bá H.
Về con chung: Chị Vũ Thị L và anh Nguyễn Bá H có 01 con chung là Nguyễn Bá H2, sinh ngày 07/02/2020. Khi ly hôn, do con chung còn nhỏ nên chị L đề nghị Tòa án giao con chung cho chị L nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con, hai bên tự thoả thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về tài sản chung: Chị Vũ Thị L và anh Nguyễn Bá H tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là anh Nguyễn Bá H:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành tống đạt, thông báo, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng qua thân thân của anh Nguyễn Bá H là Nguyễn Thị H1 đang cư trú tại số nhà B ngõ G đường Đ, thị trấn N, huyện T, thành phố Hải Phòng (chị gái anh Nguyễn Bá H). Toà án đã đề nghị chị Nguyễn Thị H1 cung cấp địa chỉ của anh H thì được thông tin: Thỉnh thoảng anh Nguyễn Bá H vẫn có liên lạc về cho gia đình thông qua điện thoại thông báo hiện đang ở Đài Loan nhưng không nói địa chỉ cụ thể nên gia đình không nắm được. Gia đình đã nhận được thông báo thụ lý vụ án về việc chị L xin ly hôn anh Nguyễn Bá H, đồng thời đã thông báo cho anh Nguyễn Bá H biết, anh H cũng đồng ý ly hôn, để con chung cho chị L nuôi và uỷ quyền cho chị Nguyễn Thị H1 nhận các văn bản tố tụng. Về tài sản chung: Gia đình không nắm được đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Xác minh tại Cục Q thể hiện: Anh Nguyễn Bá H xuất cảnh gần nhất vào ngày 03/8/2019, hiện nay vẫn chưa có thông tin nhập cảnh về nước.
Do không tống đạt được các văn bản tố tụng trực tiếp, Toà án đã giao cho đại diện gia đình và niêm yết tại Ủy ban nhân dân xã N đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú cuối cùng của bị đơn.
Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Vũ Thị L vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không có lý do.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ lần thứ hai. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Vũ Thị L được ly hôn anh Nguyễn Bá H. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Bá H2, sinh ngày 07/02/2020 cho chị Vũ Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung và về tài sản chung, chị Vũ Thị L không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Ngoài ra đề nghị giải quyết về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp về việc ly hôn, nuôi con khi ly hôn. Nguyên đơn chị Vũ Thị L và bị đơn anh Nguyễn Bá H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Hải Phòng, bị đơn hiện đang ở nước ngoài. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Chị Vũ Thị L vắng mặt và có đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Bá H vắng mặt tại địa phương, sinh sống ở nước ngoài nhưng không cung cấp địa chỉ cho Tòa án và nguyên đơn biết. Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng thông qua nhân thân của anh Nguyễn Bá H là chị Nguyễn Thị H1 đang cư trú tại Số nhà B ngõ G đường Đ, thị trấn N, huyện T, thành phố Hải Phòng (chị gái anh Nguyễn Bá H). Anh H đã biết các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: Chị Vũ Thị L và anh Nguyễn Bá H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng ngày 25/7/2019. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Qua lời trình bày của chị Vũ Thị L và thân thân của anh Nguyễn Bá H cùng các tài liệu, chứng cứ mà Tòa án thu thập được cho thấy quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp, vợ chồng đã ly thân từ khi từ cuối năm 2019 đến nay không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Hiện anh Nguyễn Bá H đang làm việc và sinh sống tại nước ngoài vẫn chưa quay trở về Việt Nam. Mâu thuẫn đã được cả hai bên đã cố gắng và được hai bên gia đình động viên, khuyên bảo nhưng không thể hàn gắn. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị L về việc ly hôn với anh Nguyễn Bá H là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận.
[4] Về con chung: Chị Vũ Thị L và anh Nguyễn Bá H có 01 con chung là Nguyễn Bá H2, sinh ngày 07/02/2020. Xét thấy: Hiện nay, con chung đang ở cùng chị L do chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Nguyễn Bá H đang ở nước ngoài không có điều kiện chăm sóc các con. Do đó, giao con chung Nguyễn Bá H2 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
[5] Về tài sản chung: Chị Vũ Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Vũ Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị L và anh Nguyễn Bá H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 8, 9; Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị L.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vũ Thị L được ly hôn anh Nguyễn Bá H.
- Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Bá H2, sinh ngày 07 tháng 02 năm 2020 cho chị Vũ Thị L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Chị Vũ Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Vũ Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000552 ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Vũ Thị L đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Chị Vũ Thị L (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết.
Anh Nguyễn Bá H (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Vân Thúy |
5
Bản án số 287/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 287/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị L - Nguyễn Bá H Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
