|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 299/2024/DS-ST Ngày: 20 - 9 - 2024 V/v tranh chấp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Yến Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Xuân Minh
Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Trúc Linh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý 543/2024/TLST- DS ngày 17 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 367/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hồng T, sinh năm 1983.
Ông Dương Nhất Đ – sinh năm 1978.
Nơi cư trú: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Hồng T: Ông Dương Nhất Đ – sinh năm 1978 (Xin vắng mặt)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Kiều N, sinh năm 1978 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Dương Nhất Đ trình bày:
Vào ngày 10/4/2022 âm lịch (âl), bà Nguyễn Kiều N làm chủ hụi có mở dây hụi 5.000.000 đồng, gồm 24 chưng, mỗi tháng khui 1 lần, vợ chồng ông có tham gia 01 chưng (số thứ tự 12), đã đóng được 17 lần, đến lần khui thứ 18 (ngày 10/8/2023 âm lịch) ông bỏ thăm trúng 1.300.000 đồng và được hốt hụi, số tiền là 104.700.000 đồng, bà N có chung hụi nhiều lần được 38.700.000 đồng. Do thấy bà N khó khăn về tiền bạc nên ông đồng ý trừ đóng hết những lần hụi chết cho đến khi mãn, sau khi cấn trừ hết bà N còn nợ lại ông 36.000.000 đồng. Từ đó đến nay, bà N không có trả thêm cho ông, bà N chỉ hứa hẹn rồi cố tình lánh mặt. Do đó, yêu cầu Toà án xem xét giải quyết buộc bà Nguyễn Kiều N trả cho vợ chồng ông tiền hụi còn nợ là: 36.000.000 đồng.
Đối với bị đơn bà Nguyễn Kiều N, quá trình giải quyết vụ án đã được Toà án tống đạt Thông báo thụ lý, triệu tập hợp lệ nhiều lần tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải và xét xử nhưng bà N vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản phản hồi ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Dương Nhất Đ và bà Nguyễn Hồng T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà Nguyễn Kiều N thanh toán tiền hụi còn nợ. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Nguyễn Kiều N hiện cư trú tại địa chỉ ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng phía bị đơn là bà Nguyễn Kiều N vắng mặt không có lý do, nguyên đơn ông Dương Nhất Đ có yêu cầu xin xét xử vắng mặt do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyên đơn ông Dương Nhất Đ xác định vợ chồng ông có tham gia 01 chưng hụi tháng 5.000.000 đồng do bà Nguyễn Kiều N làm chủ hụi và hốt vào lần thứ 18 được 104.700.000 đồng, bà N có giao hụi nhiều lần và cấn trừ tiền hụi chết nên còn nợ lại ông bà là 36.000.000 đồng.
Chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, nguyên đơn ông Đ đã cung cấp Danh sách chơi hụi khui ngày 10/4/2022 âm lịch có chữ ký của bà Nguyễn Kiều N, thể hiện danh sách ghi chép thông tin của các hụi viên tham gia dây hụi do bà N làm chủ hụi, trong đó có thể hiện tên hụi viên “THẢO- ĐỈNH”. Đồng thời, tại các Tờ ghi nhận (có xác nhận của chính quyền địa phương) cùng ngày 13/8/2024 của những hụi viên trong dây hụi mà ông Đ cung cấp có thể hiện ý kiến trình bày của: Bà Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm 1982; bà Lâm Thị N1, sinh năm 1979; ông Lý Minh Đ1, sinh năm 1979 đều xác định thông tin dây hụi là thực tế do bà Nguyễn Kiều N làm chủ hụi, xác định vợ chồng ông Đ, bà T có tham gia dây hụi nêu trên, đã bỏ thăm hốt hụi vào lần thứ 18 nhưng bà N vẫn chưa giao đủ tiền cho vợ chồng ông Đ và bà T là đúng sự thật. Trong khi đó, quá trình giải quyết vụ án bị đơn là bà Nguyễn Kiều N đã được Toà án tống đạt Thông báo thụ lý, triệu tập hợp lệ nhiều lần tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hoà giải và xét xử nhưng bà N vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản phản hồi ý kiến xem như mặc nhiên thừa nhận đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Dương Nhất Đ và bà Nguyễn Hồng T, buộc bà Nguyễn Kiều N có nghĩa vụ thanh toán cho ông Dương Nhất Đ và bà Nguyễn Hồng T số tiền nợ hụi là 36.000.000 đồng là phù hợp.
[4] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Nhất Đ nên bị đơn bà Nguyễn Kiều N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền hụi phải thanh toán cho nguyên đơn theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Cụ thể: 36.000.000 đồng x 5% = 1.800.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Các điều 92, 147, 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 468, 471 Bộ luật Dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Nhất Đ và bà Nguyễn Hồng T đối với bị đơn bà Nguyễn Kiều N.
Buộc bà Nguyễn Kiều N có nghĩa vụ trả cho ông Dương Nhất Đ và bà Nguyễn Hồng T số tiền là 36.000.000 đồng (Ba mươi sáu triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi chậm trả tương ứng với số tiên và thời gian chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí:
Bà Nguyễn Kiều N phải chịu 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn ông Dương Nhất Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, đã dự nộp 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng) tại biên lai thu số 0005152 ngày 14/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được nhận lại toàn bộ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Yến Phương |
Bản án số 299/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi
- Số bản án: 299/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu thanh toán tiền vay
