Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 287/2024/DS-ST

Ngày 09-9-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Văn Lực;

2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 504/2024/TLST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 358/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 322/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q. Địa chỉ: Tầng A (tầng trệt) và tầng 2, Tòa nhà S - A P, phường B, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đầu Văn L, sinh năm 2000 (Giấy ủy quyền ngày 29/5/2024), có mặt.

- Bị đơn:

  1. Bà Phạm Thị H, sinh năm 1975, vắng mặt.
  2. Ông Trần Văn L1, sinh năm 1974, vắng mặt.

Cùng thường trú: số C, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 29 tháng 5 năm 2024, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng TMCP Q (viết tắt là Ngân hàng Q) đã ký với bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1 các Hợp đồng tín dụng, cụ thể như sau:

- Hợp đồng tín dụng số 0512/HĐTD-VIB614/18 ngày 22/5/2018 với nội dung: Ngân hàng Q cho bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1 vay 300.000.000 đồng; mục đích vay vốn: sửa chữa và mua sắm vật dụng gia đình cho căn nhà tại thửa đất số 429, tờ bản đồ số 23, khu phố B, phường A, thị xã D, tỉnh Bình Dương; thời hạn vay: 180 tháng. Lãi suất vay: lãi suất tại thời điểm giải ngân: 9.99%/năm; lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ 4.29%/năm. Ngày trả lãi: hàng tháng vào ngày 25, ngày trả lãi đầu tiên là ngày 25/6/2018. Hoàn trả khoản tín dụng gốc: hàng tháng vào ngày 25, mỗi tháng trả 1.667.000 đồng, tháng cuối trả số tiền còn lại, ngày trả gốc đầu tiên là ngày 25/6/2018. Ngày 25/5/2018, Ngân hàng Q đã giải ngân cho bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1 theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 0512/KUNN-VIB614/18 với số tiền 300.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với hợp đồng tín dụng.

- Hợp đồng tín dụng số 0511/HĐTD-VIB614/18 ngày 22/5/2018 với nội dung: Ngân hàng Q cho bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1 vay 700.000.000 đồng; mục đích vay vốn: bù đắp tiền nhận chuyển nhượng bất động sản tại thửa đất số 95, tờ bản đồ số 17, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; thời hạn vay: 180 tháng. Lãi suất vay: lãi suất tại thời điểm giải ngân: 9.8%/năm; lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ 4.09%/năm. Ngày trả lãi: hàng tháng vào ngày 25, ngày trả lãi đầu tiên là ngày 25/6/2018. Hoàn trả khoản tín dụng gốc: hàng tháng vào ngày 25, mỗi tháng trả 3.889.000 đồng, tháng cuối trả hết số tiền còn lại, ngày trả gốc đầu tiên là ngày 25/6/2018. Ngày 25/5/2018, Ngân hàng Q đã giải ngân cho bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1 theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 0511/KUNN-VIB614/18 với số tiền 700.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với hợp đồng tín dụng.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1 đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký, khoản vay đã quá hạn thanh toán từ ngày 25/4/2023 và đang xếp loại nợ nhóm 5 là nợ xấu theo quy định tại Điều 10 Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/7/2021 của Ngân hàng N. Tạm tính đến ngày 09/9/2024, bà H và ông L1 đã thanh toán cho Ngân hàng Q số tiền là 871.480.309 đồng, trong đó: gốc là 344.472,000 đồng, lãi là 527.008.309 đồng và còn nợ Ngân hàng Q là: 819.721.058 đồng, trong đó: nợ gốc là 655.528.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 57.299.653 đồng, nợ lãi quá hạn là 106.893.405 đồng, trong đó:

- Khoản nợ đối với Hợp đồng tín dụng số 0512/HĐTD-VIB614/18 ngày 22/5/2018 là 253.355.683 đồng, trong đó: nợ gốc là 196.646.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 23.687.483 đồng, nợ lãi quá hạn là 33.022.200 đồng.

- Khoản nợ đối với Hợp đồng tín dụng số 0511/HĐTD-VIB614/18 ngày 22/5/2018 là 566.365.375 đồng, trong đó: nợ gốc là 458.882.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 33.612.170 đồng, nợ lãi quá hạn là 73.871.205 đồng.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 429, tờ bản đồ số: 23, địa chỉ: Khu phố B, phường A, thị xã (nay là thành phố ) D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CL 602055, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 05439 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố ) D, tỉnh Bình Dương cấp cho bà Phạm Thị H ngày 17/4/2018. Tài sản này được thế chấp tại Ngân hàng Q theo Hợp đồng thế chấp số công chứng: 007685, Quyển số: 06 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C ngày 23/5/2018. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Từ những căn cứ trên nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Buộc bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1 phải thanh toán ngay cho Ngân hàng Q số tiền tạm tính đến ngày 09/9/2024 là: 819.721.058 đồng, trong đó: nợ gốc là 655.528.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 57.299.653 đồng, nợ lãi quá hạn là 106.893.405 đồng theo các hợp đồng tín dụng như sau:
    • - Khoản nợ đối với Hợp đồng tín dụng số 0512/HĐTD-VIB614/18 ngày 22/5/2018 là 253.355.683 đồng, trong đó: nợ gốc là 196.646.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 23.687.483 đồng, nợ lãi quá hạn là 33.022.200 đồng.
    • - Khoản nợ đối với Hợp đồng tín dụng số 0511/HĐTD-VIB614/18 ngày 22/5/2018 là 566.365.375 đồng, trong đó: nợ gốc là 458.882.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 33.612.170 đồng, nợ lãi quá hạn là 73.871.205 đồng.
  2. Ngân hàng Q được tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 10/9/2024 cho đến khi bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ đã ký (chi tiết tại Hợp đồng tín dụng số 0512/HĐTD-VIB614/18 ngày 22/5/2018, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 0512/KUNN-VIB614/18 ngày 25/5/2018 và Hợp đồng tín dụng số 0511/HĐTD-VIB614/18 ngày 22/5/2018, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 0511/KUNN-VIB614/18 ngày 25/5/2018).
  3. Trong trường hợp bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Q thì đề nghị kê biên, phát mại tài sản bảo đảm, cụ thể là:

    Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 429, tờ bản đồ số: 23, địa chỉ: Khu phố B, phường A, thị xã (nay là thành phố ) D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản

khác gắn liền với đất số: CL 602055, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 05439 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố ) D, tỉnh Bình Dương cấp cho bà Phạm Thị H ngày 17/4/2018. Tài sản này được thế chấp tại Ngân hàng Q theo Hợp đồng thế chấp số công chứng: 007685, Quyển số: 06 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, tỉnh Bình Dương công chứng ngày 23/5/2018 và toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị công trình, diện tích cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích nhà đất đã thế chấp để thu hồi nợ vay cho Ngân hàng Q. Bất kỳ sự thay đổi, sửa chữa, nâng cấp nào của bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1 đối với tài sản thế chấp làm tăng giá trị thực tế của tài sản thế chấp sẽ được coi là bộ phận không thể tách rời thuộc tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay cho Ngân hàng Q.

4. Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với Ngân hàng Q. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng Q.

- Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã triệu tập bị đơn bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1 nhưng bà H và ông L1 vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định; không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bị đơn bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1.

[2] Bị đơn bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1 vắng mặt tất cả các lần Tòa án triệu tập là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp và tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xét thấy: Hợp đồng tín dụng số 0512/HĐTD-VIB614/18 ngày 22/5/2018 và Hợp đồng tín dụng số 0511/HĐTD-VIB614/18 ngày 22/5/2018 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Q với bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1 thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận của các bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội, thỏa thuận của các bên về số tiền vay, thời hạn vay, mục đích, lãi suất vay, phương thức trả nợ...phù hợp với quy định của pháp luật. Thực hiện hợp đồng Ngân hàng Q đã giải ngân cho cho bà H và ông L1 số tiền 1.000.000.000 đồng, trong đó theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 0512/KUNN-VIB614/18 là 300.000.000 đồng và theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 0511/KUNN-VIB614/18 là 700.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà H và ông L1 đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng đã ký, khoản vay đã quá hạn thanh toán và chuyển thành các khoản nợ quá hạn từ ngày 25/4/2023. Xét thấy, bị đơn bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ là vi phạm thỏa thuận tại Điều 1 của Hợp đồng tín dụng số 0512/HĐTD-VIB614/18 ngày 22/5/2018 và Hợp đồng tín dụng số 0511/HĐTD-VIB614/18 ngày 22/5/2018 kèm các khế ước nhận nợ. Vì vậy, nguyên đơn Ngân hàng Q khởi kiện yêu cầu thu hồi nợ trước hạn và yêu cầu bị đơn bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1 thanh toán số tiền còn lại theo Hợp đồng tín dụng số 0512/HĐTD-VIB614/18 ngày 22/5/2018 và Hợp đồng tín dụng số 0511/HĐTD-VIB614/18 ngày 22/5/2018 với số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 09/9/2024 là 819.721.058 đồng, trong đó: nợ gốc là 655.528.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 57.299.653 đồng, nợ lãi quá hạn là 106.893.405 đồng và tiền lãi quá hạn tiếp tục tính từ ngày 10/9/2024 cho đến khi thanh toán hết số nợ là có căn cứ chấp nhận.

[4] Về việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ:

[4.1] Đối với Quyền sử dụng đất diện tích 79,9m² thuộc thửa đất số: 429, tờ bản đồ số: 23, địa chỉ: Khu phố B, phường A, thị xã (nay là thành phố ) D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CL 602055, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 05439 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố ) D, tỉnh Bình Dương cấp cho bà Phạm Thị H ngày 17/4/2018. Xét thấy, tài sản bảo đảm được công chứng và đăng ký thế chấp hợp pháp giữa Ngân hàng Q với bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1 là hợp đồng thể hiện sự tự nguyện của các bên, không trái đạo đức, không trái pháp luật và tuân thủ quy định về hình thức nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải tôn trọng thực hiện. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán dẫn đến việc Ngân hàng chấm dứt cho vay, thu nợ trước hạn và Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Vì vậy, yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng là phù hợp với thỏa thuận của các bên trong hợp đồng nên có căn cứ chấp nhận.

[4.2] Ngoài ra, trên đất thế chấp còn có một số tài sản của bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1 nhưng không thuộc tài sản thế chấp gồm: 01 nhà ở riêng lẻ loại 03 tầng + gác lửng có tổng diện tích xây dựng 204.41m² (tầng trệt: 63.24m², tầng

lửng: 39.53m², lầu 1: 64.24m², lầu 2: 37.4m²); chiều cao công trình là 14,1m². Căn nhà này được Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố ) D, tỉnh Bình Dương cấp Giấy phép xây dựng số 187/GP.XD ngày 22/3/2010 cho bà Phạm Thị H. Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 318 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp thì tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 325 quy định: “Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Từ những quy định nêu trên cần phát mại các tài sản trên đất không thế chấp để đảm bảo quyền thu hồi nợ của Ngân hàng.

[5] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[6] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Bị đơn bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1 phải trả lại cho Ngân hàng Q 5.000.000 đồng.

[8] Về án phí: Bị đơn bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1 phải chịu án phí có giá ngạch do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và các Điều 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ Điều 100, Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng;

- Căn cứ Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;

- Căn cứ Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng;

- Căn cứ các Điều: 317, 318, 319, 320, 323, 325 của Bộ luật dân sự;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q đối với bị đơn bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

1.1. Buộc bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 09/9/2024 là 819.721.058 đồng, trong đó: nợ gốc là 655.528.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 57.299.653 đồng, nợ lãi quá hạn là 106.893.405 đồng, trong đó:

  • - Khoản nợ đối với Hợp đồng tín dụng số 0512/HĐTD-VIB614/18 ngày 22/5/2018 là 253.355.683 đồng, trong đó: nợ gốc là 196.646.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 23.687.483 đồng, nợ lãi quá hạn là 33.022.200 đồng.
  • - Khoản nợ đối với Hợp đồng tín dụng số 0511/HĐTD-VIB614/18 ngày 22/5/2018 là 566.365.375 đồng, trong đó: nợ gốc là 458.882.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 33.612.170 đồng, nợ lãi quá hạn là 73.871.205 đồng.

Kể từ ngày 10/9/2024, bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1 còn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi cho Ngân hàng TMCP Q theo mức lãi suất đã thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng số 0512/HĐTD-VIB614/18 ngày 22/5/2018 và Hợp đồng tín dụng số 0511/HĐTD-VIB614/18 ngày 22/5/2018 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

- Trong trường hợp bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đối với khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP Q được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án phát mại các tài sản thế chấp để thu hồi nợ, bao gồm:

  • + Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số: 429, tờ bản đồ số: 23, địa chỉ: Khu phố B, phường A, thị xã (nay là thành phố ) D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CL 602055, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 05439 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố ) D, tỉnh Bình Dương cấp cho bà Phạm Thị H ngày 17/4/2018.
  • + Các tài sản gắn liền với đất gồm: 01 nhà ở riêng lẻ loại 03 tầng + gác lửng có tổng diện tích xây dựng 204.41m² (tầng trệt: 63.24m², tầng lửng: 39.53m², lầu 1: 64.24m², lầu 2: 37.4m²); chiều cao công trình là 14,1m².

2. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1 phải trả lại cho Ngân hàng TMCP Q 5.000.000 đồng.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị H và ông Trần Văn L1 phải chịu 36.591.000 đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Q số tiền 17.309.913 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001021 ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01);
  • - Các đương sự (02);
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 287/2024/DS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 287/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn Ngân hàng TMCP H với bị đơn bà Phạm Thị H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger