|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 287/2025/HS-PT Ngày: 02 - 12 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thơ Hiền
Các Thẩm phán: Ông Y Phi Kbuôr và bà Lưu Thị Thu Hường
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 288/2025/HSPT ngày 21/10/2025, đối với bị cáo Lê Viết Vũ T. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2025/HS-ST ngày 26/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Lê Viết Vũ T - sinh ngày 27 tháng 8 năm 2001; Nơi sinh: xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Thôn B, xã C, tỉnh Đắk Lắk (trước đây là: Thôn B, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk); Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Viết N (sinh năm 1978) và bà Vũ Thị M (sinh năm 1979); Vợ Lâm Thị H (sinh năm 2006), có 01 con (sinh năm 2023); Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/4/2025 đến ngày 11/7/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn từ tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh. Bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn Đ - sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn G, xã E, tỉnh Đắk Lắk (trước đây là: Thôn G, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Viết Vũ T là người lái thuê máy múc cho anh Nguyễn Văn Đ1. Ngày 13/4/2025, T đem xe máy múc đến dọn rẫy cho anh Nguyễn Xuân L, tại thôn B, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk) thì thấy anh Nguyễn Văn Đ để lại xe máy cày nhãn hiệu ISEKI 8020 màu xanh, gắn biển “99-78-15” có kéo theo rơ mooc tại khu vực rẫy qua đêm và không có người trông coi, nên T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy cày này để đem cầm cố lấy tiền tiêu xài. Vào khoảng 20 giờ cùng ngày, T đi bộ đến chỗ anh Đ để xe máy cày, rồi khởi động và điều khiển xe máy cày đến tiệm cầm đồ “Đạt Hoa”, tại tổ dân phố A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Nay là tổ dân phố A, xã E, tỉnh Đắk Lắk) do ông Nguyễn Văn Đ1 làm chủ dịch vụ cầm đồ thì gặp anh Nguyễn Trung N1 là con trai ông Đ1. Sau khi hai bên trao đổi T đồng ý cầm cố xe máy cày này cho tiệm cầm đồ “Đạt H1” để lấy số tiền 40.000.000 đồng. Khi cầm cố, T không nói cho anh N1 biết xe máy cày này do T trộm cắp mà có và hai bên lập giấy biên nhận thế chấp, T giao xe máy cày và ký dưới mục chủ hiện vật (Lê Viết Vũ T); số tiền 40.000.000 đồng Thanh đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi ông Nguyễn Văn Đ làm đơn trình báo đến cơ quan chức năng, ngày 15/4/2025 T đến Cơ quan công an đầu thú hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2025/HSST ngày 26/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk đã quyết định:
- Tuyên bố bị cáo Lê Viết Vũ T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Viết Vũ T 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt bị cáo đi thi hành án, được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/4/2025 đến ngày 11/7/2025.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về biện pháp tư pháp về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 09/9/2025, bị cáo Lê Viết Vũ T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thừa nhận án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng, không oan. Tuy nhiên mức hình phạt mà bản án sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là nặng nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu, mà giảm nhẹ một phần hình phạt và xin được hưởng án treo.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Viết Vũ T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, án sơ thẩm xử phạt 03 năm 09 tháng tù là có phần nghiêm khắc. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đã đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản trộm cắp đã được thu giữ trả lại cho bị hại, bồi thường thiệt hại 5.000.000đ cho bị hại và được bị hại bãi nại, bồi thường số tiền 40.000.000đ cho ông Nguyễn Văn Đ1; cha bị cáo là người có công được Bộ trưởng Bộ C tặng thưởng bằng khen và kỷ niệm chương bảo vệ an ninh tổ quốc. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt, xử bị cáo tội trộm cắp tài sản với mức án 03 năm 03 tháng tù.
Bị cáo không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 20 giờ ngày 13/4/2025, tại thôn B, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là thôn B, xã E, tỉnh Đắk Lắk), Lê Viết Vũ T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt một xe máy cày nhãn hiệu ISEKI 8020 màu xanh, gắn biển “99 78-15” có kéo theo rơ mooc của ông Nguyễn Văn Đ. Giá trị tài sản chiếm đoạt theo kết luận định giá là 126.000.000 đồng. Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Đắk Lắk xét xử bị cáo Lê Viết Vũ T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo Lê Viết Vũ T:
Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội; áp dụng đúng, đủ các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng và đặc điểm nhân thân của bị cáo nhưng quyết định hình phạt 03 năm 09 tháng tù là có phần nghiêm khắc. Xét bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Tự giác đầu thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường cho bị hại 5.000.000đ và được bị hại bãi nại; bồi thường cho người liên quan Nguyễn Văn Đ1 40.000.000đ; tài sản trộm cắp đã thu giữ trả lại cho bị hại; có cha là người có nhiều thành tích xuất sắc trong sự nghiệp bảo đảm an ninh, trật tự tại địa bàn cơ sở được Bộ trưởng Bộ C tặng Bằng khen và Kỷ niệm chương bảo vệ an ninh tổ quốc.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên đề nghị giảm nhẹ một phần hình phạt. Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi phạm tội của bị cáo là bộc phát nhất thời, không phải tội phạm chuyên nghiệp, bị cáo thể hiện thái độ thật sự ăn năn hối cải nên chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo và đề nghị của Kiểm sát viên, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà sớm cải tạo thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
Mặt dù bị cáo phạm tội lần đầu nhưng mức độ phạm tội là nghiêm trọng nên không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Viết Vũ T, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2025/HSST ngày 26/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Về án phí: Bị cáo Lê Viết Vũ T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Viết Vũ T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Viết Vũ T: 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt bị cáo đi thi hành án, được khấu trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/4/2025 đến ngày 11/7/2025.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Thơ Hiền |
Bản án số 287/2025/HS-PT ngày 02/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về trộm cắp tài sản (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 287/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Viết Vũ Thanh, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt, tuyên bố bị cáo Lê Viết Vũ Thanh phạm tội Trộm cắp tài sản, xử phạt: Bị cáo Lê Viết Vũ Thanh 03 năm 03 tháng tù.
