| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HÀ NỘI Bản án số: 287/2025/HNGĐ -ST Ngày: 19/11/2025 “V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình” | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Anh
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hải
2. Ông Vũ Nguyên Lâm
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Oanh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 8 - Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thơ - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hà Nội.
Ngày 19 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 8 – Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 206/2025/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 05 năm 2025 về: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2025/QĐXXST- HNGĐST ngày 15/10/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 261/QĐHPT- HNGĐ, ngày 03/11/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Cao Văn L, sinh năm 1954; CCCD: [...]; Nơi đăng ký thường trú: Thôn L, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội (nay là xã H, thành phố Hà Nội).
Có mặt tại phiên tòa.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Cao Văn L: Ông Nguyễn Văn A – Luật sư Công ty L1 – Đoàn Luật sư thành phố H.
Có mặt tại phiên tòa.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956; CCCD: [...]; Nơi đăng ký thường trú: Thôn L, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội (nay là xã H, thành phố Hà Nội).
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản hòa giải và tại các văn bản, tài liệu, chứng cứ cung cấp cho Toà án và tại phiên toà nguyên đơn là ông Cao Văn L trình bày: Về tình cảm: Ông Cao Văn Lâm S năm 1954 và bà Nguyễn Thị T sinh năm 1956, nơi ĐKHKTT: Thôn L, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội đã chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1985. Việc chung sống với nhau là hoàn toàn tự nguyện. Vợ chồng chung với nhau hòa thuận, sau một thời gian sống chung thì phát sinh mâu thuẫn. Đến năm 2020, vợ chồng bắt đầu sống ly thân. Từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay, ông Cao Văn L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Ông Cao Văn L và bà Nguyễn Thị T đã sống chung với nhau như vợ chồng trước khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực nhưng không đăng ký kết hôn. Hai vợ chồng đủ điều kiện được pháp luật công nhận là có hôn nhân thực tế, ông đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn với bà Nguyễn Thị T.
Về con chung: Ông Cao Văn L và bà Nguyễn Thị T có 01 con chung là anh Cao Văn C, sinh ngày 25/06/1986. Khi ly hôn, anh Cao Văn C đã trưởng thành, không bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, không có khó khăn trong điều khiển hành vi vì vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Ông Cao Văn L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản xác minh ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hà Nội tại Công an xã H, thành phố Hà Nội thể hiện: Qua kiểm tra các đồng chí cung cấp như sau: Tại địa bàn thôn L, xã H, thành phố Hà Nội có bà Nguyễn Thị T, sinh ngày 24/12/1956, số định danh: 001156027227 đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống thường xuyên tại địa chỉ số 02 ngách 38/2, Cổng Nổi, thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, (nay là xã Hoài Đức) Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có quan điểm: Về việc thực hiện tố tụng của Tòa án và các đương sự: Quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là ông Cao Văn L. Cho ông Cao Văn L được ly hôn với bà Nguyễn Thị T. Về con chung: Đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không. Về án phí: Ông L được miễn án phí DSST do là người cao tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là “Ly hôn”, bà Nguyễn Thị T có ĐKHKTT tại Thôn L, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội (nay là thôn L, xã H, thành phố Hà Nội). Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hà Nội) thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
[2] Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Cao Văn L: Ông Cao Văn L trình bày: ông L và bà Nguyễn Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương vào năm 1985, nhưng không đăng ký kết hôn. Xét thấy, ông L và bà T bắt đầu sống với nhau như vợ chồng từ năm 1985, trước thời điểm 03/01/1987. Mặc dù hai bên không đăng ký kết hôn nhưng việc chung sống là tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân gia đình năm 1959. Căn cứ Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội, quan hệ giữa ông L và bà T được công nhận là hôn nhân thực tế và được pháp luật bảo vệ như hôn nhân hợp pháp. Do đó, khi một bên yêu cầu ly hôn Tòa án thụ lý và giải quyết theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 33; khoản 1 Điều 56; Điều 59; Điều 62; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Điều 143; Điều 183; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội hướng dẫn về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình 2011; Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQ14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí và án phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Cao Văn Lâm. Xử cho ông Cao Văn Lâm ly hôn bà Nguyễn Thị T.
2. Về con chung: Ông Cao Văn L và bà Nguyễn Thị T có 01 con chung là anh Cao Văn C, sinh ngày 25/06/1986. Hiện nay anh C đã trưởng thành (trên 18 tuổi), không bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, không có khó khăn trong điều khiển hành vi nên Hội đồng xét xử không xét.
3. Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Ông Cao Văn L không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung vợ chồng; bà Nguyễn Thị T không có ý kiến quan điểm nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không xem xét giải quyết trong vụ án này, tách ra để giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi các bên có yêu cầu.
4. Về án phí: Ông Cao Văn L được miễn án phí Ly hôn sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Ông Cao Văn L có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - UBND xã Hoài Đức; Tp. Hà Nội. - Thi hành án TP. Hà Nội; - VKSKV8, TP. Hà Nội; - Tòa án nhân dân TP. Hà Nội; - Lưu HS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Kim Anh |
Bản án số 287/2025/HNGĐ -ST ngày 19/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 287/2025/HNGĐ -ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
