|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 287/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17-6-2025 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lê Văn Quỳnh |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Phan Hòa |
| Bà Hoàng Thị Hường | |
| Thư ký phiên tòa: | Bà Lê Thị Xuân - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. |
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên toà.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 377/2025/TLST - HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 317/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Mai Văn H, sinh năm 1983;
Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Khối H, phường N, thị xã C (nay là thành phố V), tỉnh Nghệ An;
Địa chỉ cư trú hiện nay: ŠTEBERLOVA 6448/57, PEZINOK, SLOVAKIA; vắng mặt tại phiên tòa và xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Kim Đ, sinh năm 1984;
Địa chỉ cư trú hiện nay: Số nhà A, ngõ C đường T, khối X, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền (có chứng thực của Đ1 tại nước Cộng hòa S), nguyên đơn anh Mai Văn H trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị Kim Đ kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã C (nay là thành phố V), tỉnh Nghệ An vào ngày 18 tháng 4 năm 2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Trong thời kỳ hôn nhân, anh thường xuyên đi làm ở nước ngoài nên vợ chồng ít gần gũi nhau; dẫn đến hai bên bất đồng trong suy nghĩ, không cùng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân. Từ tháng 6/2023 đến nay, vợ chồng không còn liên lạc với nhau nữa. Hiện tại, anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị Kim Đ.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Mai Nguyễn Trâm A, sinh ngày 06/12/2013 và Mai Nguyễn Vy A1, sinh ngày 23/4/2017. Hiện nay, các con đang ở với chị Đ và được chị Đ chăm sóc, nuôi dưỡng. Để đảm bảo cuộc sống của các con không bị xáo trộn, anh và chị Đ thỏa thuận; khi ly hôn sẽ giao các con cho chị Đ chăm sóc, nuôi dưỡng đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh và chị Đ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Anh tự nguyện chịu toàn bộ án phí.
Anh Mai Văn H hiện đang cư trú và làm việc tại nước Cộng hòa Slovakia nên không thể về Việt Nam để giải quyết việc ly hôn. Do đó, anh đã ủy quyền cho chị Mai Thị T, sinh năm 1979, địa chỉ cư trú: Số C đường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An nộp đơn khởi kiện ly hôn, tài liệu và nhận các văn bản của Tòa án. Đồng thời, anh đề nghị xét xử vắng mặt.
Theo bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn chị Nguyễn Thị Kim Đ trình bày:
Chị và anh Mai Văn H kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã C (nay là thành phố V), Nghệ An vào ngày 18 tháng 04 năm 2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Trong thời kỳ hôn nhân, anh H thường xuyên đi làm ở nước ngoài thời gian dài, dẫn đến vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau, không cùng quan điểm sống. Do vợ chồng sống xa nhau, ít liên lạc với nhau nên khi xảy ra mâu thuẫn rất khó hàn gắn. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh H làm đơn ly hôn thì chị cũng đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Mai Nguyễn Trâm A, sinh ngày 06/12/2013 và Mai Nguyễn Vy A1, sinh ngày 23/4/2017. Hiện các con đang ở với chị và được chị chăm sóc, nuôi dưỡng. Để đảm bảo cuộc sống của các con không bị xáo trộn, chị và anh H thỏa thuận; khi vợ chồng ly hôn sẽ giao các con chung cho chị chăm sóc, nuôi dưỡng đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị và anh H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Nguyễn Thị Kim Đ có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nhưng do bận công việc nên chị có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
-
Về thủ tục tố tụng: Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Về thẩm quyền giải quyết: Anh Mai Văn H hiện đang cư trú tại nước Cộng hòa S đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị Kim Đ, hiện đang cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 39, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.
Về thủ tục hòa giải: Theo quy định tại khoản 2 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án không tiến hành hòa giải được, vì nguyên đơn anh Mai Văn H không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài.
Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Mai Văn H đã ủy quyền cho chị Mai Thị T, sinh năm 1979; địa chỉ cư trú: Số C đường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An nộp đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, tài liệu (có chứng thực của Đ1 tại nước Cộng hòa S) cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và anh đề nghị xét xử vắng mặt. Chị Nguyễn Thị Kim Đ đã nộp bản tự khai, tài liệu cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và chị đề nghị xét xử vắng mặt. Các đương sự phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về tài liệu, chứng cứ mà các bên đã nộp cho Tòa án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Mai Văn H và chị Nguyễn Thị Kim Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã C (nay là thành phố V), Nghệ An vào ngày 18 tháng 04 năm 2013, là hôn nhân hợp pháp. Theo anh H và chị Đ trình bày: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Trong thời kỳ hôn nhân, anh H thường xuyên đi làm ở nước ngoài nên vợ chồng ít gần gũi nhau; dẫn đến hai bên bất đồng trong suy nghĩ, không cùng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Do vợ chồng sống xa nhau, ít liên lạc với nhau nên khi xảy ra mâu thuẫn rất khó hàn gắn. Từ tháng 6/2023 đến nay, vợ chồng không còn liên lạc với nhau nữa. Hiện tại, anh H và chị Đ đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh H nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đ. Về phía chị Đ cũng đồng ý ly hôn, thỏa thuận nuôi con và không yêu cầu Tòa án chia tài sản theo yêu cầu ly hôn của anh H. Căn cứ vào Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam; Điều 3 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Mai Văn H và chị Nguyễn Thị Kim Đ.
-
Về con chung: Anh Mai Văn H và chị Nguyễn Thị Kim Đ có 02 con chung. Nay ly hôn, anh H và chị Đ thỏa thuận: Chị Nguyễn Thị Kim Đ được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con Mai Nguyễn Trâm A, sinh ngày 06/12/2013 và Mai Nguyễn Vy A1, sinh ngày 23/4/2017 đến lúc các con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Mai Văn H và chị Nguyễn Thị Kim Đ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con, phù hợp với nguyện vọng của con và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình nên Tòa ghi nhận.
- Về tài sản chung: Anh Mai Văn H và chị Nguyễn Thị Kim Đ không yêu cầu Tòa án chia tài sản khi ly hôn.
- Về án phí: Anh Mai Văn H thỏa thuận chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban T1 về án phí, lệ phí Tòa án; điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 55; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 35; Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 207; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Mai Văn H và chị Nguyễn Thị Kim Đ.
-
Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các bên như sau:
Ghi nhận chị Nguyễn Thị Kim Đ được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Mai Nguyễn Trâm A, sinh ngày 06/12/2013 và Mai Nguyễn Vy A1, sinh ngày 23/4/2017 đến lúc các con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Mai Văn H và chị Nguyễn Thị Kim Đ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh Mai Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Anh Mai Văn H và chị Nguyễn Thị Kim Đ không yêu cầu Tòa án chia tài sản khi ly hôn.
- Về án phí: Anh Mai Văn H thỏa thuận chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 150.000 (Một trăm năm mươi nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng anh H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0007824 ngày 15/5/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Trả lại cho anh H số tiền 150.000 (Một trăm năm mươi nghìn) đồng tạm ứng án phí còn lại.
- Về quyền kháng cáo: Anh Mai Văn H có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị Kim Đ có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Văn Quỳnh |
Bản án số 287/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 287/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai Văn H - Nguyễn Thị Kim Đ - ly hôn
