Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 287/2024/HSST

Ngày: 07/11/2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM- TỈNH ĐỒNG NAΙ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • + Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Quyên
  • + Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quang Hoạch và ông Đinh Xuân Dậu
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thái Hảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Lương - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 264 /2024/TLST-HS ngày 18 tháng 9năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 266/2024/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 98/QĐXXST – HS ngày 21/10/2024 và Thông báo dời lịch xét xử số 01/TB-TA ngày 29/10/2024 đối với các bị cáo:

  1. LÊ VĂN M (tên gọi khác: Ba M1), sinh năm: 1961, tại Đồng Nai. Giới tính: Nam. ĐKHKTT và trú tại: Tổ B, khu phố G, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Hưu trí. Trình độ học vấn: 12/12. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Con ông Lê Văn X (đã chết) và bà Phan Thị Đ. Họ tên vợ: Nguyễn Thị Á, sinh năm: 1965 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1987, con nhỏ nhất sinh năm 1994. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị giam giữ từ ngày 18/5/2024 đến ngày 24/5/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt).

  2. ĐẶNG NGỌC T (Tên gọi khác: không), sinh năm: 1974, tại Quảng Nam. Giới tính: Nam. ĐKHKTT: Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12 /12. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Con ông Đặng Ngọc C (đã chết) và bà Hà Thị Kiều . Họ tên vợ: Đào Thị Thu N, sinh năm: 1973 và 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1997. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị giam giữ từ ngày 18/5/2024 đến ngày 24/5/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt).

  3. LÊ VĂN T1 (Tên gọi khác: không), sinh năm: 1985, tại Thanh Hóa. Giới tính: Nam. ĐKHKTT: Thôn P, xã N, huyện V, tỉnh Thanh Hóa. Chỗ ở hiện nay: Khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12 /12. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Con ông Lê Xuân T2 và bà Lê Thị L (đã chết). Họ tên vợ: Huỳnh Thu H, sinh năm: 1986 và 01 con sinh năm 2012. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị giam giữ từ ngày 18/5/2024 đến ngày 24/5/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt).

  4. NGUYỄN HỮU T3 (Tên gọi khác: không), sinh năm: 1971, tại Bình Dương. Giới tính: Nam. ĐKHKTT và trú tại: Số nhà C, đường Q, tổ A, khu phố C, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Làm rẫy. Trình độ học vấn: 10 /12. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Văn T4 và bà Nguyễn Thị S (đã chết). Họ tên vợ: Võ Thị Kim P, sinh năm: 1976 và 01 con sinh năm 1995. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị giam giữ từ ngày 18/5/2024 đến ngày 24/5/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt).

  5. NGUYỄN NGỌC C1 (Tên gọi khác: không), sinh năm: 1975, tại Đồng Nai. Giới tính: Nam. ĐKHKTT và trú tại: C, Ấp B, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 05/12. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Thiên chúa. Con ông Nguyễn Văn T5 và bà Bùi Thị H1 (đều đã chết). Họ tên vợ: Phạm Thị Kim T6 (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2008. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị giam giữ từ ngày 18/5/2024 đến ngày 24/5/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt).

  6. NGUYỄN NGỌC T7 (Tên gọi khác: không), sinh năm: 1976, tại Hưng Yên. Giới tính: Nam. ĐKHKTT và trú tại: Khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Lái xe. Trình độ học vấn: 10/12. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Nguyễn Thị Xuân C2 (đều đã chết). Họ tên vợ: Trần Thị Mỹ A, sinh năm 1979 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2008. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị giam giữ từ ngày 18/5/2024 đến ngày 24/5/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt).

  7. NGUYỄN Đ2 (Tên gọi khác: không), sinh năm: 1984, tại thành phố Hồ Chí Minh. Giới tính: Nam. ĐKHKTT và trú tại: Thôn Đ, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ học vấn: 05/12. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn S1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ3. Họ tên vợ: Phan Thị D, sinh năm 1983 và 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017. Tiền án: 01, cụ thể: Ngày 15/9/2016 bị TAND huyện Trảng Bom xử phạt 5.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Ngày 09/10/2024 bị cáo mới nộp tiền phạt và án phí. Tiền sự: Không. Bị cáo bị giam giữ từ ngày 18/5/2024 đến ngày 24/5/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính:

Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18/5/2024, Lê Văn M tổ chức ăn nhậu tại nhà riêng thuộc ấp S, xã B, huyện T do M làm chủ cùng với Đặng Ngọc T, Lê Văn T1, Nguyễn Hữu T3, Nguyễn Ngọc C1, Nguyễn Ngọc T7, Nguyễn Đ2, Hồ Thành T8 và Nguyễn Đức T9, Đến khoảng 13 giờ 30 cùng ngày thì T7, C1 và Đ2 không nhậu nữa mà này sinh ý định đánh bạc ăn tiền nên T7 và C1 đã nói với M cho T7, C1 và Đ2 vào phòng ngủ trong nhà của M để đánh bạc. M đồng ý nên T7, C1 và Đ2 đi vào phòng ngủ của nhà M để đánh bạc bằng hình thức “lắc tài xỉu” thắng thua bằng tiền, C1 là người lấy 01 (một) cái đĩa, 01 (một) cái nắp bình xịt sơn, 03 (ba) cục xí ngầu có sẵn trong phòng ngủ để sử dụng làm công cụ đánh bạc. Hình thức đánh bạc như sau: các con bạc sử dụng 01 (một) cái đĩa, 01 (một) cái nắp bình xịt sơn, 03 (ba) cục xí ngầu để làm dụng cụ đánh bạc. C1 là người làm cái lắc xí ngầu và thắng thua trực tiếp với các con bạc, sau khi C1 lắc xí ngầu xong thì để ở giữa, các con bạc đặt tiền vào bên tài hoặc xỉu, tỷ lệ thắng thua là 1:1. Cách thức tính điểm như sau, tổng số điểm của 03 hột xí ngầu cộng lại từ 11 điểm trở lên được tính là tài, dưới 11 điểm được tính là xỉu. Mỗi ván các con bạc thắng thua từ 300.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Quá trình đánh bạc, T7, C1 và Đ2 không có ai thu tiền xâu.

Đối với Lê Văn M, Đặng Ngọc T, Lê Văn T1, Nguyễn Hữu T3 vẫn tiếp tục ăn nhậu. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì M rủ T, T1 và T3 vào phòng khách của nhà M đánh bạc bằng hình thức binh sập xám được thua bằng tiền thì cả ba đồng ý. M cung cấp 04 (bốn) bộ bài tây 52 lá để phục vụ việc đánh bạc và 01 (một) hộp giấy để đựng tiền xâu. M thoả thuận với các con bạc sau khi mỗi người làm cái 03 (ba) ván thì bỏ tiền vào hộp giấy từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng tiền xâu, sau khi kết thúc đánh bạc sẽ dùng tiền xâu để đi ăn nhậu tiếp. Hình thức đánh bạc như sau: Các con bạc quy ước với nhau mỗi ván đặt cược từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng, mỗi người làm cái 03 (ba) ván và làm cái xoay vòng, người làm cái sử dụng bộ bài tây 52 lá bài chia đều cho 04 người chơi mỗi người 13 lá bài, sau khi chia bài xong thì những người chơi sẽ xếp bài thành 03 chi, chi thứ nhất gồm 03 lá bài, chi thứ 2 và 3 mỗi chi 05 lá bài, sau đó xếp bài thành 03 chi xong sẽ lần lượt so bài với người làm cái, người nào thắng 02 chi sẽ thắng ván bài đó và thắng số tiền bằng số tiền mình đặt cược và ngược lại. Ngoài ra trường hợp người nào có bài mậu binh sẽ không phải phân chi mà thắng luôn ván bài đó, mậu binh gồm: 04 lá bài giống (tứ quý), 06 đôi, 05 lá bài liên tiếp cùng chất (thùng phá sảnh), 03 chỉ sảnh (gồm các lá bài liên tiếp nhau), 03 chỉ thùng (gồm các lá bài cùng chất). Cách thức tính bài thắng thua như sau: Lớn nhất là cù lũ, thùng, sảnh, xám chi, hai đôi, một đôi, nhỏ nhất là bài có 03 lá bài khác nhau. Các bị can tham gia đánh bạc đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày thì bị Công an huyện T phối hợp với Công an xã B bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ tại chiếu bạc thứ nhất của Nguyễn Văn M2, Đặng Ngọc T, Nguyễn Hữu T3 và Lê Văn T1 gồm: 02 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 02 bộ bài tây 52 lá chưa qua sử dụng; 01 hộp trà bằng giấy bên trong có số tiền 3.300.000 đồng để trên chiếu bạc; số tiền 31.500.000 đồng trên chiếu bạc; số tiền 42.200.000 đồng trong người các đối tượng bị bắt; 07 điện thoại di động các loại.

Vật chứng thu giữ tại chiếu bạc thứ hai của Nguyễn Ngọc C1, Nguyễn Ngọc T7 và Nguyễn Đức G: 01 bộ dụng cụ lắc tài xỉu gồm: 01 cái đĩa sứ, 03 hột xí ngầu, 01 nắp nhựa; số tiền 14.600.000 đồng trên chiếu bạc; số tiền 74.900.000 đồng trong người các đối tượng bị bắt; 04 điện thoại di động các loại; 03 xe mô tô gồm: 39F1- 7267; 60B7-78942; 60H1-069.57 (bút lục 05-08).

Quá trình điều tra xác định hành vi Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc của các bị can như sau:

  1. Lê Văn M: Bản thân là chủ nhà và sinh sống tại căn nhà thuộc địa chỉ ấp S, xã B, huyện T, Đồng Nai, vào những ngày cuối tuần M thường xuyên tổ chức ăn nhậu và đánh bạc tại căn nhà trên. Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18/5/2024 M tổ chức ăn nhậu cùng với Lê Văn T1, Nguyễn Hữu T3, Hồ Thành T8, Đặng Ngọc T và Nguyễn Đức T9, Nguyễn Đ2, Nguyễn Ngọc C1 và Nguyễn Ngọc T7. Đến khoảng 12 giờ 30 cùng ngày thì C1 và T7 xin ông M cho T7, C1 và Đ2 đánh bạc tại phòng ngủ thì ông M đồng ý. M cùng Lê Văn T1, Nguyễn Hữu T3, Hồ Thành T8, Đặng Ngọc T và Nguyễn Đức T9 tiếp tục ăn nhậu đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày thì M rủ T1, T3, T đánh bạc bằng hình thức Binh sập xám thắng thua bằng tiền thì cả ba đồng ý, địa điểm đánh bạc là tại phòng khách của nhà M, M cung cấp bài lá, hộp giấy để đựng tiền xâu. M mang theo và sử dụng số tiền 12.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc thắng được 600.000 đồng. Khi bị bắt M bị thu giữ số tiền 5.400.000 đồng trên chiếu bạc, 7.200.000 đồng trong túi quần và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max. Ngoài ra quá trình điều tra M khai nhận đã đồng ý cho các con bạc tham gia đánh bạc tại căn nhà nêu trên khoảng 02 lần trước đó nhưng không xác định được thời gian và những người tham gia đánh bạc, số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc (bút lục 130-146).

  2. Đặng Ngọc T: Tân tham gia đánh bạc bằng hình thức Binh xập xám thắng thua bằng tiền cùng Nguyễn Văn M2, Nguyễn Hữu T3 và Lê Văn T1. T mang theo số tiền 25.000.000 đồng, sử dụng số tiền 10.000.000 đồng để tham gia đánh bạc, số tiền 15.000.000 đồng sử dụng để trả nợ cho anh Phạm Huy L1 chủ công ty trách nhiệm hữu hạn T12, không sử dụng để đánh bạc, quá trình đánh bạc Tân thua 8.200.000 đồng. Khi bị bắt T bị thu giữ số tiền 1.800.000 đồng trên chiếu bạc, 15.000.000 đồng trong người, 01 điện thoại Iphone 11 pro (bút lục 153-169).

  3. Lê Văn T1: T1 tham gia đánh bạc bằng hình thức Binh xập xám thắng thua bằng tiền cùng Nguyễn Văn M2, Nguyễn Hữu T3 và Đặng Ngọc T. T1 mang theo và sử dụng số tiền 10.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc T1 thắng 1.600.000 đồng. Khi bị bắt T1 bị thu giữ số tiền 11.600.000 đồng trên chiếu bạc, 01 điện thoại OPPO màu xanh, 03 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia (bút lục 177- 188).

  4. Nguyễn Hữu T3: Tài tham gia đánh bạc bằng hình thức Binh xập xám thắng thua bằng tiền cùng với Nguyễn Văn M2, Đặng Ngọc T và Lê Văn T1. T3 mang theo 30.000.000 đồng, sử dụng số tiền 10.000.000 đồng để đánh bạc, số tiền 20.000.000 đồng T3 sử dụng để mua vật liệu sửa chữa nhà, không sử dụng để đánh bạc, quá trình đánh bạc T3 thắng 2.700.000 đồng. Khi bị bắt T3 bị thu giữ số tiền 12.700.000 đồng trên chiếu bạc, số tiền 20.000.000 đồng trong ví da để trong người và 01 điện thoại Iphone 11 màu đen (bút lục 196-208).

  5. Nguyễn Ngọc C1: Châu tham gia đánh bạc bằng hình thức lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền cùng với Nguyễn Ngọc T7 và Nguyễn Đ2. C1 mang theo 79.000.000 đồng, sử dụng 9.000.000 đồng để đánh bạc, số tiền 70.000.000 đồng là của vợ tên Hoàng T10, sinh năm: 1983, HKTT: xã V, huyện V, Đồng Nai đưa để đóng tiền ngân hàng, không sử dụng đánh bạc, quá trình đánh bạc C1 thắng 1.800.000 đồng. Khi bị bắt C1 bị thu giữ số tiền 10.800.000 đồng trên chiếu bạc, 70.000.000 đồng trong bóp trong người, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14promax, 01 xe mô tô biển số 60B7-78942 (bút lục 216-242).

  6. Nguyễn Ngọc T7: Thái tham gia đánh bạc bằng hình thức lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền cùng với Nguyễn Đ2 và Nguyễn Ngọc C1. T7 mang theo và sử dụng số tiền 3.500.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc T7 thua 2.300.000 đồng. Khi bị bắt T7 bị thu giữ số tiền 1.200.000 đồng trên chiếu bạc, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, 01 xe mô tô biển số 60H1-069.57 (bút lục 250-267).

  7. Nguyễn Đ2: Đ2 tham gia đánh bạc băng hình thức lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền cùng với và Nguyễn Ngọc T7 và Nguyễn Ngọc C1. Đ2 mang theo và sử dụng 7.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc Đ2 thắng 500.000 đồng. Khi bị bắt Đ2 bị thu giữ số tiền 2.600.000 đồng trên chiếu bạc, 4.900.000 đồng trong người, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, 01 xe mô tô biển số 39F1- 7267 (bút lục 272- 292).

  • + Tổng số tiền các đối tượng Lê Văn M, Lê Văn T1, Nguyễn Hữu T3, Đặng Ngọc T sử dụng để đánh bạc tại chiếu bạc thứ nhất là: 42.000.000 đồng.
  • + Tổng số tiền các đối tượng Nguyễn Ngọc C1, Nguyễn Ngọc T7 và Nguyễn Đ2 sử dụng để đánh bạc tại chiếu bạc thứ hai là: 19.500.000 đồng.

Ngày 24/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Văn M về tội: “Tổ chức Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự và tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Đối với Đặng Ngọc T, Lê Văn T1, Nguyễn Hữu T3, Nguyễn Ngọc C1, Nguyễn Ngọc T7, Nguyễn Đ2 về tội: “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự để điều tra. Quá trình điều tra, các bị can đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

[2] Việc thu giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:

  • + Đối với số tiền 42.000.000 đồng thu tại chiếu bạc thứ nhất gồm: 12.600.000 đồng của Lê Văn M; 1.800.000 đồng của Đặng Ngọc T; 11.600.000 đồng của Lê Văn T1; 12.700.000 đồng của Nguyễn Hữu T3 và 19.500.000 đồng thu tại chiếu bạc thứ hai gồm: 10.800.000 đồng của Nguyễn Ngọc C1; 1.200.000 đồng của Nguyễn Ngọc T7; 7.500.000 đồng của Nguyễn Đ2, các bị can sử dụng vào mục đích đánh bạc, đề nghị Toà tuyên tịch thu sung công.
  • + Đối với 02 (hai) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 02 (hai) bộ bài tây 52 lá chưa qua sử dụng; 01 (một) hộp trà bằng giấy dùng để đựng tiền xâu; 01 (một) bộ dụng cụ lắc tài xỉu gồm: 01 (một) đĩa sứ; 01(một) nắp bình sơn nhựa; 03 (ba) hột xí ngầu các bị can sử dụng làm công cụ đánh bạc, đề nghị Toà tuyên tịch thu tiêu hủy
  • + Đối với số tiền 15.000.000 đồng bị can Đặng Ngọc T không sử dụng vào mục đích đánh bạc, Cơ quan CSĐT trả lại cho bị can T (bút lục 312).
  • + Đối với số tiền 20.000.000 đồng bị can Nguyễn Hữu T3 không sử dụng vào mục đích đánh bạc, Cơ quan CSĐT trả lại cho bị can T3 (bút lục 310);
  • + Đối với số tiền 70.000.000 đồng bị can Nguyễn Ngọc C1 không sử dụng vào mục đích đánh bạc, Cơ quan CSĐT trả lại cho bị can C1 (bút lục 309).
  • + Đối với 11 điện thoại di động các loại gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max của Lê Văn M; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 pro của Đặng Ngọc T; 01 (một) điện thoại hiệu OPPO màu xanh, 03 (ba) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia của Lê Văn T1; 01 (một) điện thoại hiệu Iphone 11 màu đen của Nguyễn Hữu T3; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14promax của Nguyễn Ngọc C1; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh của Nguyễn Ngọc T7 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO của Nguyễn Đ2, không sử dụng vào mục đích đánh bạc, Cơ quan CSĐT Công an huyện T trả lại cho các bị cáo. (bút lục 308;313; 314).
  • + Đối với xe mô tô biển số 60H1-069.57 tạm giữ của bị can Nguyễn Ngọc T7 do chị Nguyễn Thị Mỹ D1, sinh năm: 2002, HKTT: KP2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai là con gái ruột của T7 làm chủ sở hữu, vào ngày 18/5/2024, T7 không sử dụng xe mô tô vào mục đích đánh bạc. Cơ quan CSĐT Công an huyện T trả lại xe mô tô trên cho chị Nguyễn Thị Mỹ D1 (bút lục 311).
  • + Đối với xe mô tô biển số 60B7-78942 của bị can Nguyễn Ngọc C1 làm chủ sở hữu, vào ngày 18/5/2024 C1 không sử dụng vào mục đích đánh bạc, Cơ quan CSĐT Công an huyện T trả lại cho bị cáo C1 (bút lục 309).
  • + Đối với xe mô tô biển số 39F1-7267 của Nguyễn Đức M3 lại từ anh Vũ Công N1, sinh năm: 1974, HKTT: 69/17 KP3, L, TP ., Đồng Nai, vào ngày 18/5/2024 Đ2 không sử dụng vào mục đích đánh bạc, Cơ quan CSĐT Công an huyện T trả lại cho bị cáo Đ2 (bút lục 313).

3. Truy tố

3.1. Tại cáo trạng số: 263/CT-VKSTB ngày 18 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố bị cáo: Lê Văn M về tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc” theo quy định tại tại khoản 1 Điều 322 khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Các bị cáo Lê Văn T1, Nguyễn Hữu T3, Đặng Ngọc T, Nguyễn Ngọc C1, Nguyễn Ngọc T7 và Nguyễn Đ2 về tội Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

  • + Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Đức C3 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Các bị cáo còn lại không có tình tiết tăng nặng.
  • + Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lê Văn T1, Nguyễn Hữu T3, Đặng Ngọc T, Nguyễn Ngọc C1, Nguyễn Ngọc T7 trong vụ án có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự (phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải). Bị cáo Lê Văn M và Nguyễn Đ2 có 01 tình tiết giảm nhẹ (thành khẩn khai báo ăn năn hối cải) theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lê Văn M là người lớn tuổi, trong quá trình công tác cũng như khi về địa phương sinh sống bị cáo đã được tặng thưởng nhiều bằng khen, giấy khen vì đạt thành tích xuất sắc; bị cáo Nguyễn Ngọc C1, Nguyễn Hữu T3 đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, gia đình bị cáo Đ2 và bị cáo T1 có công với cách mạng, do vậy các bị cáo M, C1, T3, Đ2 và T1 được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự

3.2. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử.

  • + Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 322, khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 53, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
  • + Xử phạt bị cáo: Lê Văn M từ: 50.000.000 đồng đến 70 .000.000 đồng về tội “Tổ chức đánh bạc” và 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, 35 Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt các bị cáo:
  • + Nguyễn Hữu T3, Nguyễn Ngọc C1, Lê Văn T1, Đặng Ngọc T, Nguyễn Ngọc T7 mỗi bị cáo từ 25.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt các bị cáo:
  • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T11 07 đến 09 tháng tù.
  • - Về xử lý vật chứng:
  • - Đối với số tiền 42.000.000 đồng thu tại chiếu bạc thứ nhất gồm: 12.600.000 đồng của Lê Văn M; 1.800.000 đồng của Đặng Ngọc T; 11.600.000 đồng của Lê Văn T1; 12.700.000 đồng của Nguyễn Hữu T3 và 19.500.000 đồng thu tại chiếu bạc thứ hai gồm: 10.800.000 đồng của Nguyễn Ngọc C1; 1.200.000 đồng của Nguyễn Ngọc T7; 7.500.000 đồng của Nguyễn Đ2, các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc, đề nghị Toà tuyên tịch thu sung công.
  • - Đối với 02 (hai) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 02 (hai) bộ bài tây 52 lá chưa qua sử dụng; 01 (một) hộp trà bằng giấy dùng để đựng tiền xâu; 01 (một) bộ dụng cụ lắc tài xỉu gồm: 01 (một) đĩa sứ; 01(một) nắp bình sơn nhựa; 03 (ba) hột xí ngầu các bị cáo sử dụng làm công cụ đánh bạc, đề nghị Toà tuyên tịch thu tiêu huỷ.
  • - Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tố tụng:

Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom mô tả. Qua đó, đã có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 18/05/2024 tại nhà của Lê Văn M thuộc ấp S, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Lê Văn M cung cấp 04 bộ bài tây sử dụng làm công cụ đánh bạc và 01 hộp giấy để đựng tiền xâu, sử dụng địa điểm là nhà của mình tại ấp S, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai để cho các bị can Lê Văn T1, Nguyễn Hữu T3, Đặng Ngọc T, Nguyễn Ngọc C1, Nguyễn Ngọc T7 và Nguyễn Đ2 tham gia đánhbạc với 02 chiếu bạc, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc tại sòng bạc thứ nhất bằng hình thức lắc tài xỉu là 19.500.000 đồng và tổng số tiền sử dụng để đánh bạc tại sòng bạc thứ hai bằng hình thức binh xập xám là 42.000.000 đồng.

Như vậy, hành vi của bị cáo Lê Văn M đã phạm vào các tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 322 và khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Các bị cáo Lê Văn T1, Nguyễn Hữu T3, Đặng Ngọc T, Nguyễn Ngọc C1, Nguyễn Ngọc T7 và Nguyễn Đ2 đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về trách nhiệm hình sự:

  • + Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Đức C3 01 tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Các bị cáo còn lại không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • + Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo Lê Văn M có nhân thân tốt vì chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Lê Văn T1, Nguyễn Hữu T3, Đặng Ngọc T, Nguyễn Ngọc C1, Nguyễn Ngọc T7 có nhân thân tốt vì chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Đức Đ4 áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Về hình phạt:

Hành vi của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn và trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn trật tự tại địa phương. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, vì không có sự phân công bàn bạc, không có tổ chức cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc, không lắp trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc, không có người canh gác hoặc phục vụ cho người đánh bạc. Trong vụ án này, bị cáo Lê Văn M là chủ nhà, đã đồng ý cho các bị cáo khác sử dụng địa điểm và cung cấp dụng cụ cho các bị cáo khác thực hiện hành vi đánh bạc, đồng thời trực tiếp tham gia đánh bạc với số tiền lớn nhất, do vậy bị cáo có vai trò cao nhất trong vụ án. Đối với các bị cáo Lê Văn T1, Nguyễn Hữu T3, Đặng Ngọc T, Nguyễn Ngọc C1, Nguyễn Ngọc T7 tham gia với vai trò là người đánh bạc, có vai trò tương đương nhau, do vậy căn cứ vào số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc để có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của các bị cáo đã tham gia. Bị cáo Nguyễn Đ2 đã từng bị xét xử về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý, do đó cần áp dụng hình phạt tù cho bị cáo mới đủ tính răn đe.

[6] Xét đề nghị nêu trên của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom thì thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử vì: Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, đa số các bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bị cáo Lê Văn M là người lớn tuổi, trong quá trình công tác cũng như khi về địa phương sinh sống bị cáo đã được tặng thưởng nhiều bằng khen, giấy khen vì đạt thành tích xuất sắc; bị cáo Nguyễn Ngọc C1, Nguyễn Hữu T3 đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, gia đình bị cáo Đ2 và bị cáo T1 có công với cách mạng, do vậy các bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy các bị cáo hướng tới lợi ích vật chất để làm động cơ và mục đích phạm tội, ngoài lần phạm tội này các bị cáo Lê Văn M, Lê Văn T1, Nguyễn Hữu T3, Đặng Ngọc T, Nguyễn Ngọc C1, Nguyễn Ngọc T7 luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật tại địa phương và có khả năng tự cải tạo nên áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp, thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • + Đối với số tiền 42.000.000 đồng thu tại chiếu bạc thứ nhất gồm: 12.600.000 đồng của Lê Văn M; 1.800.000 đồng của Đặng Ngọc T; 11.600.000 đồng của Lê Văn T1; 12.700.000 đồng của Nguyễn Hữu T3 và 19.500.000 đồng thu tại chiếu bạc thứ hai gồm: 10.800.000 đồng của Nguyễn Ngọc C1; 1.200.000 đồng của Nguyễn Ngọc T7; 7.500.000 đồng của Nguyễn Đ2, các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc cần tuyên tịch thu sung công.
  • + Đối với 02 (hai) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 02 (hai) bộ bài tây 52 lá chưa qua sử dụng; 01 (một) hộp trà bằng giấy dùng để đựng tiền xâu; 01 (một) bộ dụng cụ lắc tài xỉu gồm: 01 (một) đĩa sứ; 01(một) nắp bình sơn nhựa; 03 (ba) hột xí ngầu các bị cáo sử dụng làm công cụ đánh bạc cần tuyên tịch thu tiêu huỷ.

[8] Các nội dung khác:

  • + Đối với Hồ Thành T8 và Nguyễn Đức T9 chỉ ngồi xem các con bạc trên đánh bạc tại phòng khách nhà bị can M, không tham gia đánh bạc, không giúp sức và cũng không góp tiền vào những người tham gia đánh bạc nên Cơ quan CSĐT không có cơ sở xử lý.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 53, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

    • + Tuyên bố bị cáo Lê Văn M phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”.
    • + Xử phạt bị cáo Lê Văn M số tiền: 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng) về tội “Tổ chức đánh bạc” và 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”. Bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là: 130.000.000 đồng (một trăm ba mươi triệu đồng).
  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

    • + Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Đức phạm tội “Đánh bạc”.
    • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức 0 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị giam giữ (từ ngày 18/5/2024 đến ngày 24/5/2024)
  3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

    • + Tuyên bố các bị cáo: Lê Văn T1, Nguyễn Hữu T3, Đặng Ngọc T, Nguyễn Ngọc C1 và Nguyễn Ngọc T7 phạm tội “Đánh bạc”.
    • + Xử phạt các bị cáo: Lê Văn T1, Nguyễn Hữu T3, Đặng Ngọc T, Nguyễn Ngọc C1 mỗi bị cáo số tiền: 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng).
    • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T7 số tiền: 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
  4. Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:

    • + Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền 61.500.000 đồng (sáu mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng)
    • + Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 02 (hai) bộ bài tây 52 lá chưa qua sử dụng; 01 (một) hộp trà bằng giấy dùng để đựng tiền xâu; 01 (một) bộ dụng cụ lắc tài xỉu gồm: 01 (một) đĩa sứ; 01 (một) nắp bình sơn nhựa; 03 (ba) hột xí ngầu các bị cáo sử dụng làm công cụ đánh bạc

    (Tiền và vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo biên lai thu tiền số 0003671 ngày 30/9/2024 và biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 01/10/2024)

  5. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Lê Văn M, Lê Văn T1, Nguyễn Hữu T3, Đặng Ngọc T, Nguyễn Ngọc C1, Nguyễn Ngọc T7 và Nguyễn Đức M4 bị cáo đều phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Nhà tạm giữ - CA huyện;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - CA huyện Trảng Bom;
  • - Bộ phận T.H.A hình sự;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Thị Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 287/2024/HSST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)

  • Số bản án: 287/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn M và đồng phạm "Tổ chức đánh bạc" và "Đánh bạc"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger