TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 287/2024/HS-ST Ngày 13-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Phương
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Thị Bích Hồng
Bà Nguyễn Thị Tư
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đức Huy - Thư ký Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Tô Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 267/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 730/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Phạm Thị H, sinh ngày 27 tháng 9 năm 1996 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn N, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H1 và bà Phạm Thị G; chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ: Không, tạm giam từ ngày 31/7/2024; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Vũ Văn T, Luật sư Văn phòng Luật VHT thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.
- Bị hại: Anh Phạm Văn T1, sinh năm 2004, nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt;
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Đoàn Ngọc K, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn P, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
2. Chị Bùi Thị T2, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn P, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người làm chứng: Anh Vũ Minh T3, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 9/2023, Phạm Thị H đến làm việc tại quán ăn D ở số A Lô F L, Đ, Ngô Q, Hải Phòng của vợ chồng chị Bùi Thị T2 và anh Đoàn Ngọc K. Nhiệm vụ của H là bưng bê đồ ăn, phục vụ khách. Đến khoảng đầu tháng 10/2023 chị T2 có giao nhiệm vụ cho H đi chợ mua thực phẩm. Đồng thời, H cùng với anh Phạm Văn T1 là nhân viên của quán, được giao quyền thu tiền của khách khi khách thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt. Đến cuối ngày, H và anh T1 sẽ gom tiền bán hàng thu được trong ngày, cho vào trong phong bì. Bên ngoài phong bì ghi rõ ngày, ghi tổng số tiền doanh thu bán hàng của ngày trừ đi số tiền khách chuyển khoản, số tiền khách trả tiền mặt, số tiền H đi chợ mua thực phẩm (bằng đúng số tiền bán hàng thu được trong ngày bên trong phong bì). Sau đó, chuyển lại cho chị T2, anh K. Trường hợp, vào cuối ngày mà chị T2, anh K bận không qua lấy tiền bán hàng của quán thì H sẽ đưa phong bì này cho T1 giữ để khi nào gặp sẽ chuyển lại cho chị T2, anh K.
Từ ngày 22/10/2023 đến ngày 25/10/2023, H đã thu được tổng số tiền bán hàng là 16.384.000 đồng (trong đó: 18.938.000 đồng tiền khách trả tiền mặt trừ 2.554.000 đồng tiền đi chợ mua thực phẩm) và ghi chi tiết số tiền thu được các ngày này vào phong bì nhưng không cho tiền vào trong. Số tiền 16.384.000 đồng này H đã dùng để tiêu xài cá nhân hết. Ngày 26/10/2023, chị T2 bảo đưa số tiền bán hàng trên thì H nói dối đã lấy tiền để đưa mẹ đẻ là bà Phạm Thị G đi bệnh viện mổ và hẹn chị T2 đến tháng 11 sẽ trả lại tiền. Chị T2 đồng ý. Sau khi có sự việc trên xảy ra, vợ chồng chị T2, anh K không tin tưởng H nên đã thống nhất không giao trách nhiệm thu tiền của khách hàng cho H. Đầu tháng 11/2023, anh K trực tiếp nói chuyện với T1 và H, về việc H không được phép thu tiền, quản lý tiền bán hàng mà chỉ có nhiệm vụ đi chợ mua đồ cho quán ăn và bưng bê đồ ăn cho khách. Anh T1 là người trực tiếp thu, quản lý tiền bán hàng và thanh toán tiền đi chợ cho H, đến cuối ngày sẽ đưa lại tiền cho anh K, chị T2. Ngày 13/11/2023, do cần tiền tiêu xài cá nhân, H nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền bán hàng. H đã nói dối T1: “Chị T2 giao cho anh thu tiền và tiền doanh thu của khách trả” (H thường xưng anh với T1). Thân tin là thật nên đã để H thu và quản lý tiền bán hàng của cửa hàng. Từ ngày 13/11/2023 đến 17/11/2023, H đã thu được tổng số tiền bán hàng là 26.534.000 đồng (trong đó: 28.834.000 đồng tiền khách trả tiền mặt trừ 2.300.000 đồng tiền đi chợ mua thực phẩm). Số tiền 26.534.000 đồng này H đã dùng tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 18/11/2023, H tự ý nghỉ việc, không liên lạc với chị T2, anh K, T1 và các nhân viên khác trong quán ăn.
Ngày 06/01/2024, anh Đoàn Ngọc K đã gửi đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N, giao nộp 05 vỏ phong bì có ghi số tiền bán hàng của các ngày 23, 24, 25/10/2023 và 14/11/2023; 22 tờ hóa đơn thanh toán của các ngày 13, 14, 15, 16, 17/11/2023.
Ngày 10/01/2024, anh Phạm Văn T1 đã gửi đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N
Ngày 31/07/2024, Phạm Thị H đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả, hoàn trả số tiền 16.384.000 đồng cho chị T2, anh K và 26.534.000 đồng cho anh T1.
Tại Cáo trạng số 270/CT-VKSNQ ngày 04 tháng 10 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền truy tố bị cáo Phạm Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm khoản 1 Điều 174; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Anh Đoàn Ngọc K, chị Nguyễn Thị T4; anh Phạm Văn T1 không yêu cầu gì khác; không có yêu cầu về dân sự nên không xem xét giải quyết.
- Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo đồng ý với luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tuy nhiên mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo quá nghiêm khắc, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ; nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo chỉ do bồng bột tuổi trẻ, thiếu hiểu biết quy định của pháp luật nên mới phạm tội, bị cáo cũng đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật, đã tác động gia đình khắc phục toàn bộ hậu quả mà bị cáo đã gây ra và tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo đã ra đầu thú về hành vi phạm tội của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt thấp nhất cho bị cáo.
Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án giữ nguyên ý kiến đã trình bày tại cơ quan điều tra, không có yêu cầu về dân sự và đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 13/11/2023 đến 17/11/2023, bị cáo Phạm Thị H bằng thủ đoạn gian dối, nói dối Phạm Văn T1 về việc H được giao nhiệm vụ thu tiền bán hàng nhằm chiếm đoạt tổng số tiền bán hàng là 26.534.000 đồng của quán ăn D ở số A Lô F L, Đ, Ngô Q, Hải Phòng do anh T1 được vợ chồng chủ quán là chị Bùi Thị T2 và anh Đoàn Ngọc K giao quyền quản lý. Hành vi của bị cáo Phạm Thị H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt:
[3] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã tác động gia đình khắc phục hậu quả nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với tình tiết giảm nhẹ “đầu thú” mà người bào chữa đề nghị áp dụng cho bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 31/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N có lệnh bắt bị can Phạm Thị H để tạm giam nên Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị này của người bào chữa.
[5] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, xét cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[6] Theo khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự:
[7] Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều không có yêu cầu về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
[8] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về những vấn đề khác:
[9] Đối với hành vi lấy số tiền bán hàng 16.384.000 đồng trong khoảng thời gian từ ngày 22/10/2023 đến ngày 25/10/2023 của Phạm Thị H, thời gian này H và T1 là người trực tiếp được giao nhiệm vụ thu tiền, quản lý tiền bán hàng của cửa hàng nhưng H đã lợi dụng lòng tin của chủ cửa hàng là chị T2, anh K, lấy số tiền trên sử dụng vào mục đích cá nhân. Đồng thời có hành vi gian dối – nói dối về việc dùng số tiền trên để đi chữa bệnh cho mẹ. Tuy nhiên, H không bỏ trốn và đã có sự thỏa thuận thống nhất với chị T2, anh K để cho H tự khắc phục, trả dần số tiền trên. Do đó, không chứng minh được mục đích chiếm đoạt của H nên hành vi này của H chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự nên không xử lý. Anh Đoàn Ngọc K, chị Nguyễn Thị T4 đã nhận 16.384.000 đồng và không có yêu cầu gì khác.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 174; Điều 38, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố bị cáo Phạm Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31 tháng 7 năm 2024.
Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo Phạm Thị H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hồng Phương |
Bản án số 287/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 287/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: thụ lý số 267/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024
