|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 287/2024/DS-PT
Ngày: 13/05/2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Phận;
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Ngọc Dũng
Ông Nguyễn Hữu Lương
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồ Nhật Hạ – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre: Ông Phạm Công Có – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 13 tháng 05 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý 64/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 03 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2024/DS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm: 1423/2024/QĐ-PT ngày 19 tháng 04 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1949;
Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Võ Trần D, sinh năm 1992; (Có mặt);
Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn:
- Bà Lê Thị H1, sinh năm 1963 ( Có mặt);
- Ông Trần Văn M, sinh năm 1959;
Địa chỉ: A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông M:
- Anh Trần Hoàng P, sinh năm 1984; (Vắng mặt);
- Chị Trần Thanh T, sinh năm 1991; (Vắng mặt);
- Anh Trần Tấn T1, sinh năm 1993; (Vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Do có kháng cáo của: Bà Lê Thị H1 là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 06/6/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh Võ Trần D - Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Nguyên giữa bà Nguyễn Thị H và vợ chồng ông Trần Văn M, bà Lê Thị H1 là chỗ có quen biết do là người cùng địa phương nên bà H có nhiều lần cho vợ chồng ông M và bà H1 vay tiền, cụ thể như sau:
- Lần 1: Ngày 26/4/2018 dương lịch (dl), bà H có cho vợ chồng ông M và bà H1 vay 130.000.000 đồng, với lý do để làm ăn phát triển kinh tế gia đình, không có lãi suất, đồng thời vợ chồng ông M và bà H1 cam kết đến ngày 26/01/2019 (dl) sẽ hoàn trả cho bà H đầy đủ số tiền nợ nêu trên. Khi vay tiền, hai bên có lập biên nhận tiền bằng giấy viết tay đề ngày 26/4/2018 do bà H1 viết và ký tên. Tuy nhiên sau đó vợ chồng ông M và bà H1 không thực hiện đúng cam kết nêu trên dù bà H đã có rất nhiều lần yêu cầu vợ chồng ông M và bà H1 trả nợ.
- Lần 2: Ngày 14/01/2020 (dl), bà H có cho vợ chồng ông M và bà H1 vay số tiền 100.000.000 đồng, với lý do vay tiền là để làm ăn phát triển kinh tế gia đình, không có lãi suất, đồng thời vợ chồng ông M và bà H1 cam kết đến ngày 15/6/2020 (dl) sẽ hoàn trả đầy đủ số tiền nợ nêu cho bà H. Khi vay tiền có lập biên nhận tiền bằng giấy viết tay ngày 14/01/2020 do bà H1 viết và có bà H1, ông M ký tên. Tuy nhiên, sau đó vợ chồng ông M và bà H1 không thực hiện đúng cam kết nêu trên dù bà H đã có rất nhiều lần yêu cầu vợ chồng ông M và bà H1 trả nợ. Về việc bà H1, ông M vẫn chưa trả 130.000.000 đồng nhưng sau đó bà H vẫn cho vay tiếp vì bà H1, ông M hứa vay xong, làm ăn được sẽ trả hết tiền nên mới cho vay.
Đến năm 2021 ông M chết, ông M và bà H1 có 03 con chung gồm: anh Trần Hoàng P, anh Trần Tấn T1, chị Trần Thanh T. Đến nay, đã quá hạn thanh toán số tiền nợ nêu trên, mặc dù bà H đã có rất nhiều lần yêu cầu bà H1 cùng những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông M trả nợ nhưng bà H1, anh P, anh T1 và chị T vẫn cố tình không thực hiện.
Do đó, bà H đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Ba Tri giải quyết những vấn đề sau:
- Buộc bà Lê Thị H1 cùng những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông Trần Văn M là anh Trần Hoàng P, anh Trần Tấn T1, chị Trần Thanh T có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho bà H số tiền nợ là 130.000.000 đồng và tính lãi từ ngày 26/4/2018 đến ngày 26/02/2023 là 0.83% x 130.000.000 đồng x 58 tháng = 62.582.000 đồng. Tổng số tiền nợ và lãi là 192.582.000 (Một trăm chín mươi hai triệu năm trăm tám mươi hai nghìn) đồng.
- Buộc bà Lê Thị H1 cùng những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông Trần Văn M là anh Trần Hoàng P, anh Trần Tấn T1, chị Trần Thanh T có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho bà H số tiền nợ là 100.000.000 đồng và tính lãi từ ngày 14/01/2020 đến ngày 14/02/2023 là 0.83% x 100.000.000 đồng x 37 tháng = 30.710.000 đồng. Tổng số tiền nợ và lãi là 130.710.000 (Một trăm ba mươi triệu bảy trăm mười nghìn) đồng.
Tổng cộng bà H yêu cầu bà Lê Thị H1 cùng những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông Trần Văn M là anh Trần Hoàng P, anh Trần Tấn T1, chị Trần Thanh T có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho bà H số tiền 323.292.000 đồng (Ba trăm hai mươi ba triệu hai trăm chín mươi hai nghìn) đồng.
Tại phiên tòa, bị đơn Lê Thị H1 trình bày:
- Ngày 14/01/2018, bà và ông Trần Văn M có vay của bà Nguyễn Thị H số tiền 100.000.000 đồng để làm ăn, lãi suất là 9%/tháng. Khi vay tiền bà có viết biên nhận nợ ghi ngày 14/01 không có ghi năm và hứa ngày 14/02/2018 sẽ trả lại. Sau đó, bà đã đóng lãi hàng tháng, mỗi tháng 9.000.000 đồng cho đến ngày 26/10/2018 âm lịch (al) thì không có khả năng đóng nữa. Bà thừa nhận biên nhận nợ cho số tiền 100.000.000 đồng mà bà H cung cấp là do bà viết và ký tên. Sau đó, do bà H thấy bà không có khả năng đóng lãi nên bà H kêu bà viết thêm một biên nhận nợ mới có nội dung vợ chồng bà nợ bà H số tiền 130.000.000 đồng. Thực tế trong số tiền 130.000.000 đồng này có 100.000.000 đồng nợ gốc mà bà đã vay vào ngày 14/01/2018 và 30.000.000 đồng là tiền lãi của 03 tháng bà còn nợ. Biên nhận này có chữ ký tên của bà và ông M, được bà viết trong thời gian gần tết âm lịch năm 2018. Tuy nhiên, do bà H đọc cho bà ghi vào ngày 26/4/2018 nên bà mới ghi ngày đó và có hứa ngày 26 tháng giêng năm 2019 sẽ trả đủ số tiền trên cho bà H. Sau khi viết biên nhận nợ mới 130.000.000 đồng này thì bà có yêu cầu bà H trả lại cho bà biên nhận nợ 100.000.000 đồng trước đó nhưng bà H không trả mà cho rằng biên nhận nợ 130.000.000 đồng chỉ là biên nhận thể hiện lời hứa trả tiền của bà nên bà mới để cho bà H giữ cả 02 biên nhận. Nay bà chỉ thừa nhận còn nợ bà H số tiền gốc 100.000.000 đồng tại biên nhận ngày 14/01 (theo bà H1 là năm 2018), đồng thời đồng ý trả 100.000.000 đồng cùng lãi theo quy định pháp luật. Bà cho rằng số nợ này không liên quan đến các con của bà nên bà không đồng ý việc nguyên đơn yêu cầu các con của bà cùng liên đới trả nợ.
Tháng 4/2021 (al), ông M mất, không có để lại di chúc. Hiện bà và ông M chỉ có tài sản chung là 01 thửa đất số 95, tờ bản đồ số 22, diện tích 887,4m2 tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre. Trên đất chỉ có trồng dừa, không có công trình gì trên đất.
Trong quá trình giải quyết vụ án và giai đoạn sơ thẩm, những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông M là anh Trần Hoàng P, chị Trần Thanh T, anh Trần Tấn T1 đều vắng mặt và không có gởi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu kèm theo.
Sau khi hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Ba Tri đưa vụ án ra xét xử. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2024/DS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre đã tuyên:
Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 288, 357, 463, 466, 468, 470, 615 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các Điều 12, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H. Buộc bị đơn bà Lê Thị H1 cùng những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần Văn M là anh Trần Hoàng P, chị Trần Thanh T, anh Trần Tấn T1 phải liên đới trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền nợ vốn là 230.000.000 (hai trăm ba mươi triệu) đồng, tiền nợ lãi của số tiền 130.000.000 đồng là 52.871.000 (năm mươi hai triệu tám trăm bảy mươi mốt nghìn) đồng và số tiền nợ lãi của số tiền 100.000.000 đồng là 29.880.000 (hai mươi chín triệu tám trăm tám mươi nghìn) đồng. Tổng cộng số tiền bà Lê Thị H1, anh Trần Hoàng P, chị Trần Thanh T và anh Trần Tấn T1 có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị H là 312.751.000 (ba trăm mười hai triệu bảy trăm năm mươi mốt nghìn) đồng.
- Anh Trần Hoàng P, chị Trần Thanh T, anh Trần Tấn T1 chỉ có nghĩa vụ liên đới trả tiền trong phạm vi di sản được thừa kế từ ông Trần Văn M tại thửa đất số 95, tờ bản đồ số 22, diện tích 887,4m2, mục đích sử dụng cây lâu năm, tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị H về việc yêu cầu bà Lê Thị H1, anh Trần Hoàng P, chị Trần Thanh T và anh Trần Tấn T1 liên đới trả số tiền lãi 10.541.000 (mười triệu năm trăm bốn mươi mốt nghìn) đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, tiền chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/01/2024 bà Lê Thị H1 là bị đơn trong vụ án có đơn kháng cáo theo hướng đề nghị HĐXX xem xét sửa bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị H1 là bị đơn trong vụ án. Đề nghị HĐXX xem xét giữ nguyên bản án cấp sơ thẩm.
Bị đơn: Đề nghị HĐXX xem xét sửa bản sơ thẩm theo hướng chấp nhận trả cho nguyên đơn 100.000.000đồng và 30.710.000đồng, trừ đi số tiền bị đơn đã đóng cho nguyên đơn còn lại số tiền bị đơn đồng ý trả cho nguyên đơn là 49.710.000đồng.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng, những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định của pháp luật tố tụng.
- Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS 2015 đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị H1. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 21/2024/DS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Xét kháng cáo bà Lê Thị H1 và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Bà Lê Thị H1 kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa bà Lê Thị H1 giữ nguyên nội dung kháng cáo theo đơn kháng cáo.
[2] Xét kháng cáo của bà H1, nhận thấy: Bà H trình bày có cho bà H1, ông M vay 230.000.0000 đồng và không lãi xuất. Bà H1 chỉ thừa nhận có vay của bà H số tiền 100.000.000 đồng với mức lãi suất 9% và không đồng ý số tiền vay 130.000.000 đồng; Căn cứ giấy mượn tiền ".. con đứng tên dưới đây là Lê Thị H1 và chồng Trân Văn M1 có mượn của cô B số tiền..." vào các ngày 26/4/2018 và ngày 14/01/2020 có ghi họ tên và chữ ký của Lê Thị H1 và Trần Văn M và H1 cũng thừa nhận các giấy trên là do bà viết. Do đó, có cơ sở xác định bà H đã cho bà H1, ông M vay vào các ngày 26/4/2018 số tiền 130.000.000 đồng và ngày 14/01/2020 số tiền 100.000.000 đồng nên việc bà H yêu cầu bà H1, ông M trả 230.000.000 đồng và lãi 0.83%/ tháng là có căn cứ chấp nhận. Đối với việc bà H1 chỉ thừa nhận vay 100.0000.000 đồng ngày 14/01/2018 và không thừa nhận vay số tiền 130.0000.000 đồng nhưng bà H không thừa nhận và bà H1 không cung cấp được chứng cứ chứng minh, do đó trình bày của bà H1 không có căn cứ chấp nhận.
Bà H1 trình bày trong thời gian vay đã đóng lãi suất cao cho bà H là 81.000.000 đồng nhưng bà H không thừa nhận và bà H1 không cung cấp được chứng cứ chứng minh về việc đóng lãi cho bà H số tiền 81.000.000 đồng. Do đó, trình bày của bà H1 là không có cơ sở nên không được chấp nhận. Hợp đồng vay của bà H và bà H1, ông M do hai bên thỏa thuận nhưng lời trình bày mức lãi suất mâu thuẫn, Do đó, đối với việc yêu cầu tính lãi suất của bà H với mức lãi suất 0.83%/tháng, trên số tiền gốc 230.000.000 đồng, yêu cầu của bà H là phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận là có cơ sở.
Từ những phân tích trên thấy rằng bà Lê Thị H1 kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên HĐXX không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên nội dung bản án sơ thẩm.
[7] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H1 là người cao tuổi nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, điều chỉnh một phần bản án sơ thẩm ở phần án phí dân sự sơ thẩm.
[9] Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, bà H1 là người cao tuổi nên được miễn án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị H1.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 21/2024/DS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 288, 357, 463, 466, 468, 470, 615 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các Điều 12, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H. Buộc bị đơn bà Lê Thị H1 cùng những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần Văn M là anh Trần Hoàng P, chị Trần Thanh T, anh Trần Tấn T1 phải liên đới trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền nợ vốn là 230.000.000 (hai trăm ba mươi triệu) đồng, tiền nợ lãi của số tiền 130.000.000 đồng là 52.871.000 (năm mươi hai triệu tám trăm bảy mươi mốt nghìn) đồng và số tiền nợ lãi của số tiền 100.000.000 đồng là 29.880.000 (hai mươi chín triệu tám trăm tám mươi nghìn) đồng. Tổng cộng số tiền bà Lê Thị H1, anh Trần Hoàng P, chị Trần Thanh T và anh Trần Tấn T1 có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị H là 312.751.000 (ba trăm mười hai triệu bảy trăm năm mươi mốt nghìn) đồng.
- Anh Trần Hoàng P, chị Trần Thanh T, anh Trần Tấn T1 chỉ có nghĩa vụ liên đới trả tiền trong phạm vi di sản được thừa kế từ ông Trần Văn M tại thửa đất số 95, tờ bản đồ số 22, diện tích 887,4m2, mục đích sử dụng cây lâu năm, tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị H về việc yêu cầu bà Lê Thị H1, anh Trần Hoàng P, chị Trần Thanh T và anh Trần Tấn T1 liên đới trả số tiền lãi 10.541.000 (mười triệu năm trăm bốn mươi mốt nghìn) đồng.
- Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm: bà Lê Thị H1 là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần Văn M là anh Trần Hoàng P, chị Trần Thanh T, anh Trần Tấn T1 phải liên đới nộp án phí dân sự sơ thẩm là 15.637.550 (mười lăm triệu sáu trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm năm mươi) đồng.
- - Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị H1 thuộc trường hợp miễn nộp toàn bộ số tiền án phí.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Phận |
Bản án số 287/2024/DS-PT ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
- Số bản án: 287/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
