|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 287/2023/HS-ST Ngày: 05-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu Ly.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Thành Viên.
- Bà Lê Thị Chí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thu Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Dương Thanh Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2023 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 290/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 342/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2023/HSST-QĐ ngày 28 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:
- Phạm Thị Hồng L, sinh năm: 1993, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: không có; tạm trú: số G đường H, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Đình L1 và bà Phạm Thị H; Có chồng tên Bùi Đạt T và 02 con lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2022; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2013/HSST ngày 05/3/2013 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về Tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2016 và đã thi hành xong nghĩa vụ án phí hình sự sơ thẩm; Ngày 30/12/2023, Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 04 năm 6 tháng tù về Tội cướp giật tài sản, bản án chưa có hiệu lực; tiền sự: không; tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 273/2013/HSST ngày 29/10/2013 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 6 tháng tù, về Tội cướp giật tài sản, tổng hợp hình phạt bản án số 37/2013/HSST ngày 05/3/2023 buộc chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 04 năm 6 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2016, chưa đóng án phí; tạm giữ: từ ngày 11/02/2023 đến ngày 20/02/2023, tiếp tục tạm giữ, tạm giam ngày: 22/02/2023; (Có mặt).
- Bùi Đạt T (tên gọi khác: T cá), sinh năm: 1991, tại: Hòa Bình; hộ khẩu thường trú: E Đường Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: số G đường H, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; Có vợ tên Phạm Thị Hồng L và 02 con lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2022; nhân thân: Ngày 15/01/2011, Công an quận G bắt về Tội cố ý gây thương tích và được trả tự do, bãi nại theo Quyết định số 29/QĐ ngày 22/01/2010; Ngày 03/12/2014, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 03 năm 06 tháng tù về Tội cướp giật tài sản, chấp hành xong ngày 03/11/2017, đã đóng án phí; Ngày 30/12/2023, Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 04 năm 6 tháng tù về Tội cướp giật tài sản, bản án chưa có hiệu lực; tiền sự: không; tiền án: không; tạm giữ, tạm giam ngày: 10/02/2023; (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Minh T2, sinh năm 1996; địa chỉ: Tổ A, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 22 giờ ngày 10/2/2023, tại trước số nhà F đường T, Phường A, G, Thành phố Hồ Chí Minh, tổ tuần tra 363 Công an quận G kết hợp với Công an P, quận G đi tuần tra phát hiện Bùi Đạt T điều khiển xe mô tô biển số 93C1 - 190.13 chở Phạm Thị Hồng L ngồi phía sau có biểu hiện nghi vấn nên dừng xe lại kiểm tra phát hiện 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng trong túi quần bên trái của Phạm Thị Hồng L (L và T khai là ma tuý) nên tổ tuần tra đã đưa Phạm Thị Hồng L và Bùi Đạt T về Công an P, quận G lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Quá trình điều tra đã xác định: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 10/02/2023, Phạm Thị Hồng L nói Bùi Đạt T sử dụng xe mô tô Honda Winner biển kiểm soát 93C1-19013 chở Phạm Thị Hồng Liên t nhà đi đến nhà T đường T, Phường A, quận G mua ma túy về nhà để Phạm Thị Hồng L sử dụng thì Bùi Đạt T đồng ý chở Phạm Thị Hồng L đi mua ma túy. Khi tới khu vực nhà thờ T3 thì Phạm Thị Hồng L dùng điện thoại di động số 0388.313.xxx gọi điện thoại cho người bán ma túy số 0966937973 (không rõ lai lịch), người bán nói Phạm Thị Hồng L đi bộ vào hẻm còn Bùi Đạt T đứng ngoài chờ. Phạm Thị Hồng L đi bộ vào hẻm gặp một người đàn ông đứng trong hẻm, người đàn ông bán cho Phạm Thị Hồng L 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng là Heroin với giá 500.000 đồng. Sau khi mua ma tuý xong, Phạm Thị Hồng L ra xe để Bùi Đạt T chở về. Lúc này Bùi Đạt T biết Phạm Thị Hồng L đã mua được ma túy nên Bùi Đạt T chở Phạm Thị Hồng L đi về nhà tại địa chỉ G đường H, phường H, Quận A thì Phạm Thị Hồng L cùng Bùi Đạt T lên phòng. Phạm Thị Hồng L sử dụng ma túy bằng cách bỏ lên giấy bạc đốt lửa hít còn Bùi Đạt T thì ngồi xem ti vi, Phạm Thị Hồng L sử dụng một ít ma túy, số còn lại Phạm Thị Hồng L cất vào túi quần trước bên trái.
Đến 22 giờ cùng ngày, Phạm Thị Hồng L cất giấu gói nylon ma tuý vào túi quần trước bên trái rồi nói Bùi Đạt T chở đến chân cầu T khu vực quận T mua nỏ thủy tinh (dụng cụ sử dụng ma túy đá) cho bạn tên B. Khi đến địa chỉ F đường T, Phường A, G thì bị Tổ tuần tra 363 Công an quận G kết hợp Công an P kiểm tra, phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.
Căn cứ bản kết luận giám định số 1348/KLGĐ – MT, ngày 20/02/2023 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận: tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,2435 gram, loại Heroin.
Vật chứng vụ án:
- - 01 (một) gói nylon chứa chất bột màu trắng có khối lượng 0,2288 gram loại Heroin được niêm phong có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra sau khi giám định còn lại.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim số 0388.313.xxx (Điện thoại của Phạm Thị Hồng L dùng để liên lạc mua ma tuý).
- - 01 xe máy hiệu Hoda Winner biển số 93C1 - 19013; số khung: RLHKC 2603GY321237; số máy: KC26B1107428. Qua xác minh xác định: Xe máy hiệu Hoda Winner biển số 93C1 – 19013 là của ông Ngô Minh T2 đứng tên chủ sở hữu. Làm việc với ông Ngô Minh T2 thì được biết xe này ông T2 đã bán cho Bùi Đạt T nhưng chưa làm thủ tục sang tên.
Tại bản cáo trạng số 283/CT-VKSQGV, ngày 25/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Phạm Thị Hồng L, Bùi Đạt T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Xử phạt bị cáo Phạm Thị Hồng Liên t 02 năm đến 02 năm 6 tháng tù.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Xử phạt bị cáo Bùi Đạt T từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm tù.
- - Miễn phạt bổ sung cho các bị cáo.
Áp dụng vào Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- - Tịch thu và tiêu hủy lượng ma túy thu giữ.
- - Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim số 0388.313.xxx; 01 xe máy hiệu Honda Winner biển số 93C1 - 19013.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phiên tòa: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Trong hồ sơ vụ án thể hiện: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu, đã trình bày lời khai, vì vậy căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì Phạm Thị Hồng L và Bùi Đạt T đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai các bị cáo hoàn toàn phù hợp với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:
Vào khoảng 22 giờ ngày 10/2/2023, tại trước số nhà F đường T, Phường A, G, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Phạm Thị Hồng L đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, có khối lượng 0,2435 gram, loại Heroin, mục đích để sử dụng. Bị cáo Bùi Đạt T biết bị cáo Phạm Thị Hồng L mua chất ma túy để sử dụng, tàng trữ trái phép mà vẫn dùng xe để chở bị cáo L đi mua ma túy, trên đường về thì bị phát hiện cùng chất ma túy và bị bắt giữ, ma túy thu giữ có khối lượng 0,2435 gram, loại Heroin, do đó Bùi Đạt T phải chịu tránh nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm với bị cáo L. Vì vậy, đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội. Mặc dù các bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng, mua bán... trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng các bị cáo vẫn ngang nhiên tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Thị Hồng L có tiền án về Tội cướp giật tài sản, chưa được xóa án tích, nay tiếp tục thực hiện hành vi phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Bùi Đạt T: không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, gia đình các bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đồng thời qua đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài nhằm giúp cho các bị cáo có điều kiện học tập cải tạo lại mình sau này biết tôn trọng pháp luật và đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của các bị cáo nên quyết định miễn phạt bổ sung cho các bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: không có.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với ma túy thu giữ qua giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng: 0,2288gram loại Heroin là chất Nhà nước cấm tàng trữ, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim số 0388.313.xxx, bị cáo L sử dụng liên lạc để mua ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
- - Đối với 01 xe máy hiệu Hoda Winner biển số 93C1 – 19013 qua xác minh do ông Ngô Minh T2 đứng tên chủ sở hữu, ông T2 đã bán xe này cho Bùi Đạt T nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo sử dụng xe chở bị cáo L để đi mua ma túy nên quyết định tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
[7] Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo L, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa có căn cứ xử lý, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận G tiếp tục xác minh, điều tra khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
[9] Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
[10] Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với các bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Hồng L, Bùi Đạt T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Phạm Thị Hồng L 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/02/2023, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 11/02/2023 đến ngày 20/02/2023.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Bùi Đạt T 01 (một) năm 3 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 10/02/2023.
Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 1, điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- - Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ kí ghi tên Bùi Thành Đ, dấu lăn tay của bà Phạm Thị Hồng L và hình dấu Công an P, quận G cùng chữ ký giám định viên, bên trong chứa số ma túy tổng hợp còn lại sau giám định.
- - Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Winner biển số: 93C1-19013; số khung: RLHKC2603GY321237 số máy: KC26E1167428; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim số 0388.313.xxx.
(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 217/PNK ngày 30/10/2023 của Công an quận G)
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).
Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Châu Ly |
Bản án số 287/2023/HS-ST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 287/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Hồng L và đồng bọn phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
