Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 287/2023/DS-PT

Ngày: 15-8-2023

V/v tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng, bồi thường thiệt hại về tài sản, hủy hợp đồng thuê nhà và đòi lại tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Vân

Thẩm phán: Ông Trần Tấn Quốc

Ông Đặng Văn Những

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Chi - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 08 và ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 174/2023/TLPT-DS ngày 26 tháng 6 năm 2023, về “Tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng, bồi thường thiệt hại về tài sản, hủy hợp đồng thuê nhà và đòi lại tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2023/DS-ST ngày 11 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 211/2023/QĐ-PT ngày 11 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

1. Bà Hồ Xuân N, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Long An.

2. Ông Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1974.

Địa chỉ: Khu phố E, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền của ông S, bà N: Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1966 (có mặt).

Địa chỉ: Số I P, Khu phố G, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An (Văn bản ủy quyền ngày 25/7/2022).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1976 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Long An.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Từ Ngọc Trấn Đ – Công ty L2, thuộc Đoàn luật sư thành phố H (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trần Văn H1, sinh năm 1993 (có yêu cầu độc lập), (có mặt).

2. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1998.

Cùng địa chỉ: Thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông H1, bà L: Bà Lê Kim D, sinh năm 1965 (có mặt).

Địa chỉ: Số A đường N, Phường C, thành phố T, tỉnh Long An (Văn bản uỷ quyền ngày 23/6/2022, ngày 07/7/2022, ngày 01/8/2023).

3. Bà Trần Thị Thanh T1, sinh năm 1984 (vắng mặt).

4. Ông Hà Ngọc B, sinh năm 1977 (vắng mặt).

5. Bà Nguyễn Thị Thúy V, sinh năm 1982 (vắng mặt).

6. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1943 (có mặt).

7. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1950 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Long An.

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Hoàng T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H1, bà Nguyễn Thị L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 21/6/2022 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 28/11/2022, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 02/6/2010, vợ chồng bà Hồ Xuân N, ông Nguyễn Hoàng S có ký hợp đồng thuê mặt bằng với ông Nguyễn Hoàng T (là em ruột của ông S) theo nội dung: Bà N, ông S cho ông T thuê thửa đất số 11, tờ bản đồ số 14, đất tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Long An theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 713908 do bà Hồ Xuân N đứng tên. Thời hạn thuê là 10 năm (từ ngày 02/6/2010 đến ngày 02/6/2020), tiền thuê là 10.000.000 đồng/tháng (được thanh toán vào ngày 01 tây dương lịch hàng tháng), mục đích thuê để ông T sản xuất kinh doanh nước uống đóng chai. Ngoài ra, trong hợp đồng thuê có ghi bên ông T đặt cọc trước số tiền 50.000.000 đồng nhưng thực tế vợ chồng bà N, ông S không có nhận số tiền này.

Kể từ ngày hai bên ký hợp đồng thuê mặt bằng, ông T xây dựng nhà xưởng và đầu tư nhiều thiết bị máy móc tốn nhiều tiền, thiếu vốn làm ăn nên ông T đề nghị vợ chồng bà N, ông S cho ông T trả chậm tiền thuê, cụ thể như sau: Ông T xin nợ tiền thuê trong 05 năm đầu (từ ngày 01/7/2010 đến ngày 01/7/2015). Từ năm thứ 06 trở đi (từ ngày 01/7/2015 đến ngày 01/7/2020), ông T thanh toán một phần mỗi tháng là 4.000.000 đồng (nợ 6.000.000 đồng/tháng). Sau khi hết thời hạn của hợp đồng thì ông T thanh toán toàn bộ tiền thuê còn nợ.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà N, ông S đã giao mặt bằng cho ông T sử dụng. Ông T đã thanh toán tiền thuê mặt bằng cho vợ chồng bà N, ông S tổng cộng số tiền là 240.000.000 đồng (từ ngày 01/7/2015 đến ngày 01/7/2020 (mỗi tháng 4.000.000 đồng). Ông T còn nợ lại số tiền là 960.000.000 đồng (cụ thể: 05 năm đầu mỗi tháng 10.000.000 đồng, tổng cộng là 600.000.000 đồng; 05 năm sau còn nợ 6.000.000 đồng/tháng, tổng số tiền còn nợ là 360.000.000 đồng). Ngoài ra, ông T còn nợ tiền thuê mặt bằng trong năm 2021 với số tiền là 72.000.000 đồng. Như vậy, tổng tiền thuê mặt bằng ông T còn nợ là 1.032.000.000 đồng (960.000.000 đồng + 72.000.000 đồng).

Vào ngày 14/3/2022, bà N, ông S chuyển nhượng thửa đất số 11 nêu trên cho vợ chồng ông H1, bà L. Bà N, ông S đã nhiều lần yêu cầu ông T di dời nhà xưởng đi nơi khác để bà N, ông S giao thửa đất này cho ông H1, bà L nhưng đến nay ông T không đồng ý.

Về công trình kiến trúc gắn liền trên thửa đất số 11, tờ bản đồ số 14, đang tranh chấp gồm:

  1. Nhà cấp 4 (1) diện tích đo đạc thực tế là 151,2m², giá trị sử dụng còn lại là 433.375.512 đồng.
  2. Mái che (1 – nhà tiền chế 3) diện tích đo đạc thực tế là 72,1m², giá trị sử dụng còn lại là 21.182.154 đồng.
  3. Mái che (2 – nhà tiền chế 2) diện tích đo đạc thực tế là 57,2m², giá trị sử dụng còn lại là 16.804.705 đồng.
  4. Nhà vệ sinh (7) diện tích đo đạc thực tế là 5,3m², giá trị sử dụng còn lại là 4.690.391 đồng.
  5. Hồ nước (hồ 5, 6, 8) thể tích 37,65m³, giá trị sử dụng còn lại là 27.985.182 đồng.
  6. Cửa cổng diện tích đo đạc thực tế là 12m², giá trị sử dụng còn lại là 5.090.958 đồng.
  7. Hàng rào diện tích đo đạc thực tế là 260,675m², giá trị sử dụng còn lại là 90.208.109 đồng.
  8. Sân xi măng diện tích đo đạc thực tế là 27m², giá trị sử dụng còn lại là 3.779.622 đồng.

Tất cả các công trình kiến trúc nêu trên do ông T xây dựng với tổng số tiền là 603.116.634 đồng, thì vợ chồng bà N, ông S đồng ý bồi thường cho ông Nguyễn Hoàng T số tiền này để được quyền sở hữu tất cả các tài sản nêu trên.

Riêng hồ nước có thể tích 2,65m³, giá trị sử dụng còn lại là 2.000.000 đồng, do bà N đã xây dựng trước khi cho ông T thuê đất. Đối với căn nhà kí hiệu (4) diện tích đo đạc thực tế là 27,2m², giá trị sử dụng còn lại là 77.961.732 đồng, là do bà Nguyễn Thị Thuý V1, em ruột của ông T tự ý xây dựng, không thông qua ý kiến của bà N là không đúng thoả thuận nên ông S, bà N vẫn chưa đồng ý bồi thường giá trị căn nhà này đã được định giá thành tiền nêu trên.

Nay bà N, ông S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

1. Yêu cầu cá nhân ông Nguyễn Hoàng T thanh toán số tiền thuê mặt bằng còn thiếu tổng cộng là 1.032.000.000 đồng. Bà N, ông S đồng ý cấn trừ chi phí ông T đầu tư vào tiền thuê còn nợ.

2. Buộc ông T và những người đang ở trên đất phải tháo dỡ, di dời toàn bộ các tài sản thuộc quyền sở hữu của mình ra khỏi mặt bằng thuê diện tích 577m², thuộc thửa đất số 11, tờ bản đồ số 14, đất tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Long An, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 713908 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho bà Hồ Xuân N ngày 22/01/2020.

Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn về việc buộc nguyên đơn phải hoàn trả số tiền đầu tư công trình điện 3 pha (đường dây điện kế) đã được định giá thành tiền là 46.476.000 đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản với số tiền là 4.805.000 đồng, thì nguyên đơn không đồng ý và sẽ tự thỏa thuận với ông H1, bà L ký hợp đồng mua bán điện với Điện lực Bến Lức để thiết kế nguồn điện 03 pha cho ông H1, bà L sử dụng theo thỏa thuận tại mục “Ghi chú” trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập ngày 29/01/2022. Riêng số tiền đầu tư giếng nước ngầm là 42.900.000 đồng, bị đơn đã tự nguyện rút lại yêu cầu này, nguyên đơn không có ý kiến.

Đối với yêu cầu độc lập của bà L, ông H1, thì bà N, ông S có ý kiến như sau:

Bà L, ông H1 yêu cầu bà Hồ Xuân N, ông Nguyễn Hoàng S có trách nhiệm liên đới thanh toán tiền thuê nhà làm địa điểm kinh doanh hàng tháng là 4.000.000 đồng, tạm tính từ tháng 6/2022 cho đến nay với số tiền là 44.000.000 đồng, bà N và ông S không đồng ý. Bởi vì, đây là hoạt động kinh doanh của gia đình bà L, ông H1, nguyên đơn không có lỗi do bị đơn không đồng ý giao nhà, đất nên đã khởi kiện ông T tại Tòa án và vụ án được thụ lý kéo dài cho đến nay. Đối với yêu cầu bà N, ông S phải trả căn nhà và giữ nguyên hiện trạng theo hợp đồng cho thuê nhà lập ngày 01/3/2022, giữa vợ chồng ông H1, bà L với bà N và chấm dứt hợp đồng cho thuê nhà bằng giấy tay lập ngày 01/3/2022, giữa ông H1 với bà N, thì bà N và ông S đồng ý. Ngoài ra, bà N và ông S không còn ý kiến hay yêu cầu nào khác.

Theo bản tự khai ngày 28/6/2022, ngày 04/12/2022, và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Hoàng T trình bày:

Ông và ông Nguyễn Hoàng S là anh em ruột, bà Hồ Xuân N là chị dâu của ông. Vào năm 2010, ông và ông S có ý định thỏa thuận hùn xây dựng nhà xưởng để kinh doanh nước uống đóng bình trên phần đất có diện tích 577m², thuộc thửa đất số 11, tờ bản đồ số 14, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 13631 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho Hồ Xuân N ngày 22/01/2022, đất tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Long An. Vì cả hai anh em không có vốn làm ăn, ông S đề nghị ông vay tiền để xây dựng nhà xưởng trước và ông S có thỏa thuận miệng sau khi xây dựng nhà xưởng xong, thì ông S sẽ thanh toán lại cho ông phần hùn của ông S vào nhà xưởng nêu trên. Sau đó, do đã xây dựng nhà xưởng quá lớn nên ông S không muốn hùn với ông nữa mà chuyển sang cho ông thuê mặt bằng. Vì đã lỡ xây dựng nhà xưởng nên buộc phải đồng ý thuê lại mặt bằng, ông có thỏa thuận miệng với ông S tiền thuê hàng tháng là 4.000.000 đồng nhưng trong hợp đồng cho thuê mặt bằng ghi 10.000.000 đồng/tháng.

Do là anh em ruột nên ông không có yêu cầu sửa chữa giá thuê trong hợp đồng cho thuê mặt bằng ngày 02/6/2010 từ giá thuê 10.000.000 đồng/tháng thành giá thuê 4.000.000 đồng/tháng. Chính vì thế, ông đã đóng tiền thuê mặt bằng hàng tháng cho bà N, ông S mỗi tháng là 4.000.000 đồng cho đến tháng 3/2022 thì ngưng không thanh toán nữa do ông S, bà N đã bán đất cho ông H1, bà L. Hàng tháng, ông đến gặp vợ chồng ông S, bà N để thanh toán tiền thuê mặt bằng đầy đủ. Do là người trong gia đình nên ông không yêu cầu bà N xuất hóa đơn hay lập biên nhận thanh toán cho ông mà chỉ ký tên vào cuốn sổ của bà N để xác nhận đã đóng tiền thuê hàng tháng xong, cuốn sổ này bà N đang giữ ông hoàn toàn không giữ bất kỳ sổ sách nào liên quan đến việc trả tiền thuê mặt bằng cho bà N, ông S.

Khoảng thời gian trước tết năm 2022 bà N có dự định chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho người khác, ông có đề nghị bà N nếu bán đất, thì ông bán luôn xưởng của mình để thu hồi vốn nhưng bà N không đồng ý vì cho rằng đất của bà N nên có quyền quyết định.

Nay qua yêu cầu khởi kiện của bà N, ông S buộc ông phải trả tiền thuê mặt bằng còn thiếu tổng cộng là 1.032.000.000 đồng, thì ông không đồng ý toàn bộ yêu cầu này.

Sau khi ông thuê đất của vợ chồng bà N, ông S, thì ông đã đầu tư các công trình kiến trúc gắn liền trên thửa đất số 11, tờ bản đồ số 14 được thể hiện tại Chứng thư thẩm định giá do Công ty Cổ phần T4 thực hiện số 1117.2022.VT.HS ngày 30/9/2022 tổng giá trị còn lại là 603.116.634 đồng và điện 3 pha theo Chứng thư thẩm định giá số 332.2023.VT.HS ngày 13/4/2023 định giá thành tiền là 46.476.000 đồng.

Đối với căn nhà (ký hiệu 4) do bà V1 xây dựng đã được sự đồng ý (thỏa thuận miệng) của ông S, không lập biên bản. Tuy nhiên, trong quá trình Tòa án giải quyết bà V1 không có yêu cầu gì trong vụ án.

Nay qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông và gia đình ông phải tháo dở, di dời tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để giao trả lại mặt bằng thuê cho nguyên đơn, thì ông đồng ý nhưng yêu cầu bà N, ông S phải trả lại giá trị của nhà xưởng đã xây dựng trên phần đất thuê là 603.116.634 đồng và khi nào bà N, ông S thanh toán cho ông hoàn tất số tiền này, thì ông sẽ di dời đi ngay.

Đồng thời, ông T có yêu cầu phản tố về việc nguyên đơn phải hoàn trả số tiền đầu tư công trình điện 3 pha đã được định giá thành tiền là 46.476.000 đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản với số tiền là 4.805.000 đồng. Đối với số tiền đầu tư giếng nước ngầm là 42.900.000 đồng, do hiện nay giá trị không còn nên ông T tự nguyện rút lại yêu cầu này. Ngoài ra, ông không có ý kiến hay yêu cầu nào khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H1, bà Nguyễn Thị L do bà Lê Kim D đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ông Trần Văn H1, bà Nguyễn Thị L có nhận chuyển nhượng của vợ chồng bà N, ông S thửa đất số 11, diện tích 577m², thuộc tờ bản đồ số 14, loại đất loại đất ONT, CLN, đất tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Long An, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 13631 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho cá nhân bà Hồ Xuân N ngày 22/01/2022, cùng với căn nhà cấp 4, các công trình gắn liền trên thửa đất và dòng điện 3 pha. Giá chuyển nhượng là 4.300.000.000 đồng. Ông H1, bà L đã thanh toán đầy đủ tiền chuyển nhượng cho vợ chồng bà N, ông S và đã được chỉnh lý sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Sau khi hai bên thỏa thuận chuyển nhượng, ông Trần Văn H1 và bà Hồ Xuân N có ký giấy tay “Hợp đồng cho thuê nhà” lập ngày 01/3/2022 với nội dung: Ông H1 cho bà N thuê lại căn nhà cấp 4 trên thửa đất số 11 nêu trên với giá 4.000.000 đồng/tháng, thời hạn thuê là 03 tháng, thành tiền là 12.000.000 đồng để có thời gian dọn hết các tài sản của bà N cho thuê mặt bằng và trả lại nhà, đất cho vợ chồng ông H1, bà L. Hai bên đã giao nhận hoàn tất số tiền này. Tuy nhiên, cho đến nay bà N chưa bàn giao nhà, đất cho vợ chồng ông H1, bà L sử dụng nên phải đi thuê mặt bằng khác chứa hàng hoá.

Do đó, nay vợ chồng ông H1, bà L yêu cầu Toà án xem xét giải quyết các yêu cầu như sau:

  1. Buộc bà Hồ Xuân N, ông Nguyễn Hoàng S có trách nhiệm liên đới thanh toán tiền thuê nhà cho vợ chồng ông H1, bà L mỗi tháng 4.000.000 đồng, tạm tính từ tháng 6/2022 cho đến nay với tổng số tiền là 44.000.000 đồng.
  2. Buộc bà Hồ Xuân N, ông Nguyễn Hoàng S phải bàn giao thửa đất số 11, tờ bản đồ số 14 nêu trên cùng với các công trình kiến trúc gắn liền trên thửa đất cho vợ chồng ông H1, bà L quản lý, sử dụng đúng quy định pháp luật, hiện trạng nhà đất theo “Hợp đồng cho thuê nhà” lập ngày 01/3/2022 và phần “Ghi chú” của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 29/01/2022 giữa vợ chồng ông H1, bà L với bà N.
  3. Huỷ Hợp đồng cho thuê nhà lập ngày 01/3/2022, giữa ông H1 với bà N.

Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn không đồng ý hoàn trả giá trị đường dây điện kế cho bị đơn, thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đối với yêu cầu phản tố của bị đơn về việc buộc nguyên đơn phải hoàn trả giá trị đường dây điện kế để nguyên đơn sớm giao đất cùng các công trình gắn liền trên thửa đất theo thỏa thuận giữa ông H1 và bà N. Ngoài ra, không còn ý kiến hay yêu cầu nào khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C có đơn xin vắng mặt nhưng căn cứ vào Biên bản lấy lời khai do Toà án lập ngày 14/10/2022, thì xác định: Ông C là cha ruột của ông Nguyễn Hoàng S và Nguyễn Hoàng T, không có tranh chấp hay yêu cầu độc lập với ai trong vụ án này. Toà án đã giải thích rõ cho ông biết quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án nếu không yêu cầu độc lập và cam kết đã nghe và hiểu rõ việc Toà án đã giải thích cho ông biết quyền và nghĩa vụ của mình. Ngoài ra, không còn ý kiến nào khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2 là vợ của ông Nguyễn Văn C thống nhất với ý kiến của ông C và không có yêu cầu nào khác trong vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thanh T1 là vợ của ông Nguyễn Hoàng T thống nhất với ý kiến của ông T, không có yêu cầu gì trong vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thúy V là em ruột của ông Nguyễn Hoàng T thống nhất với ý kiến của ông T, không có yêu cầu gì trong vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hà Ngọc B là chồng của bà Nguyễn Thị Thúy V xác định: Bà V có xây dựng căn nhà cấp 4 trên thửa đất ông T thuê của bà N, ông S nhưng căn nhà này là tài sản riêng của bà V, ông không có đóng góp vào việc xây dựng, tu bổ nhà này nên không có yêu cầu gì trong vụ án.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu của mình. Đồng thời, cam kết ngoài những chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án, thì không yêu cầu Tòa án thu thập thêm chứng cứ nào khác tại thời điểm hiện tại cho đến khi Tòa án xét xử ở các cấp và cũng không yêu cầu Tòa án triệu tập thêm người nào khác tham gia tố tụng trong vụ án này.

Các đương sự thống nhất với kết quả đo đạc theo Mảnh trích đo địa chính số 232-2022 do Công ty TNHH H4 vẽ ngày 26/8/2022 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B duyệt ngày 07/9/2022 và kết quả định giá theo Chứng thư thẩm định giá số 1117.2022.VT.HS ngày 30/9/2022 và số 332.2023.VT.HS ngày 13/4/2023 do Công ty Cổ phần T4 thực hiện, đề nghị Tòa án căn cứ vào các kết quả trên để giải quyết vụ án.

Vụ án được Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành hòa giải nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 35/2023/DS-ST ngày 11 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức đã căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 165, Điều 228, Điều 244 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 472, 474, 481, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Xuân N, ông Nguyễn Hoàng S về việc tranh chấp “Hợp đồng cho thuê mặt bằng” đối với bị đơn ông Nguyễn Hoàng T.

1.1. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bà Hồ Xuân N, ông Nguyễn Hoàng S và ông Nguyễn Hoàng T về việc chấm dứt “Hợp đồng cho thuê mặt bằng” xác lập ngày 02/6/2010 giữa bà Hồ Xuân N, ông Nguyễn Hoàng S và ông Nguyễn Hoàng T được Văn phòng C1 công chứng số 462, quyển số 04/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/6/2010.

1.2. Buộc ông Nguyễn Hoàng T có nghĩa vụ thanh toán tiền thuê mặt bằng còn nợ cho bà Hồ Xuân N, ông Nguyễn Hoàng S sau khi khấu trừ giá trị các công trình kiến trúc gắn liền trên phần đất thuê tại thửa đất số 11, tờ bản đồ số 14, đất tọa lạc tại xã T (do bà Hồ Xuân N đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 22/01/2020, do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B đăng ký biến động, chỉnh lý sang tên cho ông Trần Văn H1, bà Nguyễn Thị L ngày 14/3/2022) với số tiền là 332.407.000 đồng.

1.3. Bà Hồ Xuân N, ông Nguyễn Hoàng S được quyền sở hữu toàn bộ các công trình kiến trúc gắn liền trên thửa đất số 11, tờ bản đồ số 14 (do bà Hồ Xuân N đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 22/01/2020, do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B đăng ký biến động, chỉnh lý sang tên cho ông Trần Văn H1, bà Nguyễn Thị L ngày 14/3/2022), bao gồm: Nhà cấp 4 kí hiệu (1) diện tích đo đạc thực tế là 151,2m²; Mái che (1 – nhà tiền chế 3) diện tích đo đạc thực tế là 72,1m²; Mái che (2 – nhà tiền chế 2) diện tích đo đạc thực tế là 57,2m²; Nhà vệ sinh (7) diện tích đo đạc thực tế là 5,3m²; Hồ nước (Hồ E, 6, 8) thể tích 37,65m³; Cửa cổng diện tích đo đạc thực tế là 12m²; Hàng rào diện tích đo đạc thực tế là 260,675m²; Sân xi măng diện tích đo đạc thực tế là 27m² và đường dây điện kế theo Chứng thư thẩm định giá số 332.2023.VT.HS ngày 13/4/2023 do Công ty Cổ phần T4 thực hiện.

1.4. Buộc ông Nguyễn Hoàng T, bà Trần Thị Thanh T1, ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị T2 có nghĩa vụ giao phần đất tại vị trí Khu (A) diện tích đo đạc thực tế 613,4m² thuộc thửa đất số 11, tờ bản đồ số 14, loại đất ONT, CLN, đất toạ lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An và toàn bộ các công trình kiến trúc gắn liền trên đất bao gồm: Nhà cấp 4 kí hiệu (1) diện tích đo đạc thực tế là 151,2m²; Mái che (1 – nhà tiền chế 3) diện tích đo đạc thực tế là 72,1m²; Mái che (2 – nhà tiền chế 2) diện tích đo đạc thực tế là 57,2m²; Nhà vệ sinh (7) diện tích đo đạc thực tế là 5,3m²; Hồ nước (Hồ E, 6, 8) thể tích 37,65m³; Cửa cổng diện tích đo đạc thực tế là 12m²; Hàng rào diện tích đo đạc thực tế là 260,675m²; Sân xi măng diện tích đo đạc thực tế là 27m² và đường dây điện kế theo Chứng thư thẩm định giá số 332.2023.VT.HS ngày 13/4/2023 do Công ty Cổ phần T4 thực hiện cho bà N, ông S và để bà N, ông S bàn giao lại cho vợ chồng ông Trần Văn H1, bà Nguyễn Thị L quản lý sử dụng theo đúng quy định pháp luật đất đai.

1.5. Buộc bà Nguyễn Thị Thúy V, ông Hà Ngọc B phải tháo dỡ căn nhà kí hiệu (4), có diện tích đo đạc thực tế là 27,2m² thuộc 01 phần thửa đất số 11, tờ bản đồ số 14, loại đất ONT, CLN, đất toạ lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An để trả lại đất cho bà N, ông S và để bà N, ông S bàn giao lại cho vợ chồng ông Trần Văn H1, bà Nguyễn Thị L quản lý sử dụng theo đúng quy định pháp luật đất đai.

2. Không chấp nhận yêu cầu của khởi kiện của bị đơn ông Nguyễn Hoàng T về việc yêu cầu nguyên đơn bà Hồ Xuân N, ông Nguyễn Hoàng S bồi thường thiệt hại về tài sản với số tiền là 4.805.000 đồng (bốn triệu tám trăn lẻ năm nghìn đồng).

3. Đình chỉ xét xử yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Hoàng T về việc yêu cầu nguyên đơn bà Hồ Xuân N, ông Nguyễn Hoàng S phải trả chi phí đầu tư giếng nước với số tiền là 42.900.000 đồng (bốn mươi hai triệu chín trăm nghìn đồng).

4. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu độc lập của ông Trần Văn H1, bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu vợ chồng bà Hồ Xuân N, ông Nguyễn Hoàng S, ông Nguyễn Hoàng T, bà Trần Thị Thanh T1, ông Hà Ngọc B, bà Nguyễn Thị Thúy V, ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị T2, phải tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để trả lại đất trống cho vợ chồng ông Trần Văn H1, bà Nguyễn Thị L quản lý, sử dụng.

5. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trần Văn H1, bà Nguyễn Thị L đối với bà Hồ Xuân N, ông Nguyễn Hoàng S.

5.1. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của ông Trần Văn H1, bà Nguyễn Thị L và bà Hồ Xuân N, ông Nguyễn Hoàng S về việc chấm dứt “Hợp đồng cho thuê nhà” lập ngày 01/3/2022 bằng giấy tay, giữa ông Trần Văn H1 với bà Hồ Xuân N.

5.2. Buộc bà Hồ Xuân N, ông Nguyễn Hoàng S có nghĩa vụ liên đới thanh toán tiền thuê nhà cho vợ chồng ông Trần Văn H1, bà Nguyễn Thị L số tiền là 44.000.000 đồng (bốn mươi bốn triệu đồng).

5.3. Ông Trần Văn H1 và bà Nguyễn Thị L được quyền sử dụng đất tại vị trí Khu (A), thuộc thửa đất số 11, tờ bản đồ số 14, loại đất ONT, CLN đất toạ lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An và sở hữu công trình trên đất gồm: Nhà cấp 4 kí hiệu (1) diện tích đo đạc thực tế là 151,2m²; Mái che (1 – nhà tiền chế 3) diện tích đo đạc thực tế là 72,1m²; Mái che (2 – nhà tiền chế 2) diện tích đo đạc thực tế là 57,2m²; Nhà vệ sinh (7) diện tích đo đạc thực tế là 5,3m²; Hồ nước (Hồ E, 6, 8) thể tích 37,65m³; Cửa cổng diện tích đo đạc thực tế là 12m²; Hàng rào diện tích đo đạc thực tế là 260,675m²; Sân xi măng diện tích đo đạc thực tế là 27m² và đường dây điện kế theo Chứng thư thẩm định giá số 332.2023.VT.HS ngày 13/4/2023 do Công ty Cổ phần T4 thực hiện.

5.4. Buộc bà Hồ Xuân N, ông Nguyễn Hoàng S, ông Nguyễn Hoàng T, bà Trần Thị Thanh T1, ông Hà Ngọc B, bà Nguyễn Thị Thúy V, ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị T2 có trách nhiệm giao trả cho ông Trần Văn H1 và bà Nguyễn Thị L phần đất vị trí Khu (A), thuộc thửa đất số 11, tờ bản đồ số 14, loại đất ONT, CLN đất toạ lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An và công trình trên đất gồm: Nhà cấp 4 kí hiệu (1) diện tích đo đạc thực tế là 151,2m²; Mái che (1 – nhà tiền chế 3) diện tích đo đạc thực tế là 72,1m²; Mái che (2 – nhà tiền chế 2) diện tích đo đạc thực tế là 57,2m²; Nhà vệ sinh (7) diện tích đo đạc thực tế là 5,3m²; Hồ nước (Hồ E, 6, 8) thể tích 37,65m³; Cửa cổng diện tích đo đạc thực tế là 12m²; Hàng rào diện tích đo đạc thực tế là 260,675m²; Sân xi măng diện tích đo đạc thực tế là 27m² và đường dây điện kế theo Chứng thư thẩm định giá số 332.2023.VT.HS ngày 13/4/2023 do Công ty Cổ phần T4 thực hiện.

Thửa đất số 11, tờ bản đồ số 14, loại đất ONT, CLN, đất toạ lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An nêu trên do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B đăng ký biến động, chỉnh lý sang tên cho ông Trần Văn H1, bà Nguyễn Thị L ngày 14/3/2022.

Các đương sự không được ngăn cản các bên thực hiện quyền của người được xác lập quyền sử dụng đất, tài sản theo bản án, quyết định của Toà án. Trường hợp các bên vi phạm việc sử dụng đất đã được xác định theo bản án, quyết định của Tòa án thì có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án ra quyết định cưỡng chế thi hành án.

Các đương sự được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo kết quả giải quyết của Tòa án.

Cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động, thu hồi hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

(Vị trí, hiện trạng, diện tích, loại đất, tứ cận, tài sản, các công trình kiến trúc gắn liền trên đất theo Mảnh trích đo địa chính số 232-2022 do Công ty TNHH H4 vẽ ngày 26/8/2022 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B duyệt ngày 07/9/2022 và kết quả định giá theo Chứng thư thẩm định giá số 1117.2022.VT.HS ngày 30/9/2022 và số 332.2023.VT.HS ngày 13/4/2023 do Công ty Cổ phần T4 thực hiện - mảnh trích đo được đính kèm theo bản án).

6. Về chi phí tố tụng:

6.1. Ông Nguyễn Hoàng T phải chịu toàn bộ chi phí đo đạc, định giá và xem xét thẩm định tại chỗ tổng cộng là 36.700.000 đồng (ba mươi sáu triệu bảy trăm nghìn đồng).

Bà Hồ Xuân N đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng là 36.700.000 đồng, ông Nguyễn Hoàng T đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng là 14.500.000 đồng. Do đó, ông Nguyễn Hoàng T còn phải nộp thêm 22.200.000 đồng (hai mươi hai triệu hai trăm nghìn đồng) để trả cho bà N.

6.2. Bà Hồ Xuân N, ông Nguyễn Hoàng S phải liên đới chịu toàn bộ chi phí định giá đường dây điện kế là 14.500.000 đồng (mười bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Bà N và ông S đã nộp và chi phí xong.

7. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trong vụ án này, hàng tháng bên phải thi hành án còn chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

8. Về án phí dân sự sơ thẩm:

8.1. Buộc bà Hồ Xuân N, ông Nguyễn Hoàng S phải liên đới chịu tổng cộng 2.800.000 đồng (hai triệu tám trăm nghìn đồng). Khấu trừ tiền tạm ứng án phí bà N, ông S đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0011886; số tiền 20.400.000 đồng (hai mươi triệu bốn trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0011887, cùng ngày 21/6/2022 và số tiền 1.800.000 đồng (một triệu tám trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0012426 ngày 07/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Long An chuyển sang án phí. Bà Hồ Xuân N, ông Nguyễn Hoàng S được hoàn lại 19.700.000 đồng (mười chín triệu bảy trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí còn thừa.

8.2. Buộc ông Nguyễn Hoàng T phải chịu tổng cộng 17.220.000 đồng (mười bảy triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng) tiền án phí. Khấu trừ tiền tạm ứng án phí ông T đã nộp là 1.072.500 đồng (một triệu không trăm bảy mươi hai nghìn năm trăm đồng) theo biên lai thu số 0009428; số tiền 2.625.000 đồng (hai triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009429 và số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009430 cùng ngày 31/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Long An chuyển sang án phí. Ông Nguyễn Hoàng T còn phải nộp tiếp án phí là 13.222.000 đồng (mười ba triệu hai trăm hai mươi hai nghìn đồng).

8.3. Ông Trần Văn H1, bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí. Hoàn trả cho ông Trần Văn H1, bà Nguyễn Thị L tiền tạm ứng án phí ông H1, bà L đã nộp là 5.250.000 đồng (năm triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0012375; số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0012376; số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0012377, cùng ngày 28/11/2022 và số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0012414 ngày 05/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Long An.

9. Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu.

9.1. H3 lại cho ông Nguyễn Hoàng T 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0009910 ngày 25/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Long An.

9.2. H3 lại cho ông Trần Văn H1 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0009913 ngày 25/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Long An.

9.3. H3 lại cho bà Nguyễn Thị L 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0009914 ngày 25/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Long An.

10. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

11. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Bến Lức;
  • - Chi cục THADS huyện Bến Lức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 287/2023/DS-PT ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng, bồi thường thiệt hại về tài sản, hủy hợp đồng thuê nhà và đòi lại tài sản

  • Số bản án: 287/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng, bồi thường thiệt hại về tài sản, hủy hợp đồng thuê nhà và đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng, bồi thường thiệt hại về tài sản, hủy hợp đồng thuê nhà và đòi lại tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger