Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 2868/2025/DS – ST

Ngày: 19 - 11 - 2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thanh Hương;

2. Bà Nguyễn Thị Thu Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An Thành – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Lan Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2025, Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1107/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1220/2025/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 761/2025/QĐST-DS ngày 29 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q1; Địa chỉ liên lạc: A N, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh;

    Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (hoặc/và): Ông Lê Trung N, bà Trương Thị Thanh T, bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Trường L, bà Nguyễn Thị Thanh V; Địa chỉ: A N, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản uỷ quyền số 271261.25 ngày 05/9/2025).

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Tú A, sinh năm 1980; Địa chỉ: I T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Vũ Quốc C1, sinh năm 1980;
    2. Bà Nguyễn Huỳnh Phương A1, sinh năm 1985;
    3. Em Nguyễn Ngọc Phương V1, sinh năm 2009;
    4. Em Nguyễn Ngọc Phương T1, sinh năm 2012;

    Người đại diện hợp pháp của em V1 và em T1 là ông Nguyễn Vũ Quốc C1 hoặc bà Nguyễn Huỳnh Phương A1 (là cha, mẹ ruột của em V1 và em T1).

    1. Ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1978;
    2. Anh Trần Nguyễn Hoàng A2, sinh năm 2003.

Cùng địa chỉ: I T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(tại phiên tòa: Bà V có mặt; bà Tú A có mặt; những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 26/7/2024, Đơn sửa đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện đề ngày 22/8/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q1 do bà Nguyễn Thị Thanh V làm người đại diện theo ủy quyền trình bày như sau:

Ngân hàng TMCP Q1 (sau đây gọi tắt là V2) đã ký với bà Nguyễn Thị Tú A các Hợp đồng tín dụng, cụ thể như sau:

  1. Hợp đồng tín dụng số 5945092.20 ngày 27/10/2020 với nội dung: VIB cho bà Nguyễn Thị Tú A vay số tiến 3.900.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Bù đắp vốn tự có nhận chuyển nhượng bất động sản tại Thửa đất số 519, Tờ bản đồ số 132 (Thừa cũ 14,15, Theo Tài Liệu đo năm 2005), (Thửa cũ 1064-22, Từ 4, Theo tài liệu đo năm 1991), phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Thời hạn vay: 348 tháng, từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến 30/10/2049. Lãi suất vay: 9,3%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng.

    Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng Lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3.7%/năm. Ngày trả lãi: Hàng tháng vào ngày 30, ngày trả lãi đầu tiên: 30/11/2020.

    Ngày 30/10/2020, V2 đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị Tú A theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1223283.20 với số tiền 3.900.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng.

  2. Hợp đồng tín dụng số 4580609.20 ngày 27/10/2020 với nội dung: VIB cho bà Nguyễn Thị Tú A vay số tiền 100.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Tiêu dùng mua sắm vật dụng gia đình; Thời hạn vay: 96 tháng. Lãi suất vay: Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 12,5%/năm. Lãi suất này sẽ được V2 chủ động điều chính 03 tháng một lần bằng Lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên đô 4,1%/năm. Ngày trả lãi: Hàng tháng vào ngày 30, ngày trả lãi đầu tiên: 30/11/2020.

    Ngày 30/10/2020, V2 đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị Tú A theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 7838208.20 với số tiền 100.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay là: "Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 302, tờ bản đồ số: 1 (BĐĐC), địa chỉ: I T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: AÐ 583741, số vào số cấp GCN: H00575 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/03/2006, cập nhật tặng cho bà Nguyễn Thị Tú A ngày 14/07/2014". Tài sản này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp số công chứng: 026312, Quyền số: 10 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh công chứng ngày 29/10/2020. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị Tú A đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng; Hợp đồng thế chấp đã ký, khoản vay đã quá hạn thanh toán kể từ ngày 30/03/2023 đến nay.

Nay VIB khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết như sau:

  1. Buộc bà Nguyễn Thị Tú A phải thanh toán ngay cho Ngân hàng TMCP Q1 tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 19/11/2025 là: 5.799.375.436 đồng, cụ thể như sau:
    • Hợp đồng tín dụng số 5945092.20 ngày 27/10/2020:

      + Nợ gốc: 3.820.200.000 đồng; Lãi trong hạn: 915.159.012 đồng; Lãi quá hạn: 955.111.939 đồng; Phí: 0 đồng. Tổng 5.690.470.951 đồng.

    • Hợp đồng tín dụng số 4580609.20 ngày 27/10/2020:

      + Nợ gốc: 70.831.000 đồng; Lãi trong hạn: 16.572.545 đồng; lãi quá hạn: 21.500.940 đồng; Phí: 0 đồng. Tổng: 108.904.485 đồng

  2. Đề nghị Q tòa tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 20/11/2025 cho đến khi bà Nguyễn Thị Tú A thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại các Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ đã ký.
  3. Công nhận hiệu lực của Hợp đồng thế chấp số công chứng: 026312, Quyền số: 10 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh công chứng ngày 29/10/2020.
  4. Trong trường hợp bà Nguyễn Thị Tú A không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho V2, đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng TMCP Q1 có quyền xử lý tài sản bảo đảm theo các phương thức và nội dung quy định tại Hợp đồng thế chấp số công chứng: 026312, Quyền số: 10 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh công chứng ngày 29/10/2020 hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm cụ thể là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 302, tờ bản đồ số: 1 (BĐĐC), địa chỉ: I T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: AÐ 583741, số vào số cấp GCN. H00575 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/03/2006, cập nhật tặng cho bà Nguyễn Thị Tú A ngày 14/07/2014. Tài sản này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp số công chứng: 026312, Quyền số: 10 TP/CC- SCC/HĐGD do Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh công chứng ngày 29/10/2020 và toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị công trình, diện tích cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích nhà đất đã thế chấp để thu hồi nợ vay cho V2.
  5. Bất kỳ sự thay đổi, sửa chữa, nâng cấp nào của bà Nguyễn Thị Tú A đối với tài sản thế chấp làm tăng giá trị thực tế của tài sản thế chấp sẽ được coi là bộ phận không thể tách rời thuộc tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay cho V2 (Chi tiết xem Hợp đồng thế chấp số công chứng: 026312, Quyền số: 10 TP/CC- SCC/HĐGD do Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh công chứng ngày 29/10/2020).
  6. Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với V2. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho V2.

Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 5.000.000 đồng mà V2 đã tạm ứng theo Thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng số 1107/TB-TA ngày 27/02/2025 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Toà án nhân dân Khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh), đề nghị Tòa án buộc bị đơn có trách nhiệm hoàn trả cho VIB theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn bà Nguyễn Thị Tú A trình bày:

Bà xác nhận có ký các hợp đồng tín dụng như V2 trình bày để vay tổng số tiền gốc là 3.891.031.000 đồng. Nay VIB yêu cầu bà thanh toán tổng số tiền gốc, lãi tạm tính đến ngày 19/11/2025 là: 5.799.375.436 đồng thì bà có ý kiến như sau: Do kinh tế của bà hiện nay đang khó khăn, không đủ tiền để thanh toán theo yêu cầu của Ngân hàng, bà xin VIB tạo điều kiện giảm tổng gốc, lãi với số tiền còn lại bà phải thanh toán cho ngân hàng là 4.300.000.000 đồng thì bà sẽ cố gắn trả đủ trong vòng 1 tháng (kể từ ngày 19/11/2025 đến hết ngày 19/12/2025) cho V2 để tất toán hợp đồng tín dụng.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay theo Hợp đồng thế chấp số công chứng: 026312, Quyền số: 10 TP/CC- SCC/HĐGD ngày 29/10/2020 đã ký với VIB hiện tại vẫn do bà đứng tên, không thay đổi hiện trạng, kết cấu, bà cũng đang quản lý và sử dụng tài sản này. Ngày 26/5/2022, V2 có văn bản xác nhận đồng thuận việc bà được quyền cho thuê tài sản thê chấp. Theo đó, ngày 01/6/2022, bà ký Hợp đồng thuê nhà số 003996/HĐ-TN với em rể của bà là ông Nguyễn Vũ Quốc C1 về việc cho ông C1 thuê mặt bằng phía trước của tài sản thê chấp để làm chỗ sửa xe honđa với giá thuê là 30.000.000 đồng/tháng. Do người thuê mặt bằng cũng là người trong gia đình nên nếu có tranh chấp về việc cho thuê nhà thì bà và người thuê nhà sẽ khởi kiện giải quyết bằng 1 vụ án khác.

Quá trình giải quyết vụ án, những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Toà án tống đạt, niêm yết hợp lệ giấy triệu tập; thông báo thu lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải; giấy triệu tập tham dự phiên toà; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên toà nhưng không có ý kiến đối với các văn bản đã được Toà án tống đạt, do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Tại phiên tòa:

  • - Những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
    • + Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi xét xử tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, vụ án thụ lý đúng thẩm quyền. Đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Về thời hạn chuẩn bị xét xử vi phạm quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự tuy nhiên không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án.
    • + Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và nghe ý kiến trình bày của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết và tư cách tham gia tố tụng:
    1. Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết:

      Xét nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q1 khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Tú A thanh toán số tiền gốc, lãi theo các Hợp đồng tín dụng số 5945092.20 ngày 27/10/2020 và Hợp đồng tín dụng số 4580609.20 ngày 27/10/2020 mà hai bên đã ký kết. Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại số I T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh do đó Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Toà án nhân dân Khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh) thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

    2. Về tư cách tham gia tố tụng của đương sự:

      Căn cứ theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Ngân hàng TMCP Q1 là nguyên đơn; bà Nguyễn Thị Tú A là bị đơn và các đương sự có tên nêu trên là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là hoàn toàn phù hợp.

  2. Về sự vắng mặt của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

    Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  3. Về thời hiệu khởi kiện:

    Do không có đương sự nào đề nghị áp dụng thời hiệu nên căn cứ Điều 184 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét về thời hiệu đối với vụ án này.

  4. Về pháp luật áp dụng:

    Thời điểm xác lập hợp đồng giữa các đương sự vào năm 2020 nên được Bộ luật dân sự năm 2015 điều chỉnh.

  5. Về tính pháp lý của Hợp đồng:

    Xét Hợp đồng tín dụng số 5945092.20 ngày 27/10/2020, Hợp đồng tín dụng số 4580609.20 ngày 27/10/2020 và Hợp đồng thế chấp số công chứng: 026312, Quyền số: 10 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh công chứng ngày 29/10/2020 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Q1 với bà Nguyễn Thị Tú A phù hợp với quy định tại các Điều 385 về hợp đồng; Điều 400 về thời điểm giao kết hợp đồng; Điều 401 về hiệu lực của hợp đồng của Bộ luật dân sự năm 2015. Các bên tham gia giao kết hợp đồng trên cơ sở tự nguyện; nội dung và hình thức của hợp đồng không trái quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm các bên giao kết làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.

  6. Về yêu cầu của nguyên đơn:
    1. Về số tiền nợ gốc:
      • - Căn cứ các Hợp đồng tín dụng nói trên, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1223283.20 và Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 7838208.20 cùng ngày 30/10/2020; lời trình bày, xác nhận của đương sự và các tài liệu chứng cứ kèm theo hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử, có cơ sở xác định bà Nguyễn Thị Tú A có vay của V2 số tiền gốc là 4.000.000.000 đồng (tất cả số tiền đã được giải ngân cho bà Tú A). Quá trình vay, bà Tú A đã trả được số tiền gốc là 108.969.000 đồng còn nợ lại số tiền gốc là 3.891.031.000 đồng, khoản vay đã quá hạn thanh toán kể từ ngày 30/3/2023 đến nay.
      • - Tại Hợp đồng tín dụng số 5945092.20 ngày 27/10/2020 các bên có quy định về thời hạn vay là 348 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 30/10/2049. Tại Hợp đồng tín dụng số 4580609.20 ngày 27/10/2020 các bên có quy định về thời hạn vay là 96 tháng. Căn cứ khoản 1 Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 thì: “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm nội dung thỏa thuận trong hợp đồng, thỏa thuận cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm...”.
      • - Xét bị đơn bà Nguyễn Thị Tú A đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với VIB là đã vi phạm điều, khoản thoả thuận giữa các bên theo hợp đồng đã ký. VIB khởi kiện yêu cầu bà Tú A thanh toán số tiền gốc còn nợ là 3.891.031.000 đồng, bị đơn cũng thừa nhận số nợ này nên đây là tình tiết không cần phải chứng minh. Do đó, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn cung cấp và Toà án thu thập được, căn cứ vào Điều 91, Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.
    2. Về số tiền lãi nguyên đơn yêu cầu tạm tính đến ngày 19/11/2025:
      • - Xét Hợp đồng tín dụng số 5945092.20 ngày 27/10/2020 các bên có thoả thuận: Lãi suất vay: 9,3%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng.

        Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng Lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3.7%/năm. Ngày trả lãi: Hàng tháng vào ngày 30, ngày trả lãi đầu tiên: 30/11/2020.

      • - Xét Hợp đồng tín dụng số 4580609.20 ngày 27/10/2020 các bên có thoả thuận: Lãi suất vay: Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 12,5%/năm. Lãi suất này sẽ được V2 chủ động điều chính 03 tháng một lần bằng Lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên đô 4,1%/năm.
      • - Tại khoản 2 Điều 103 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định: “Trường hợp các bên không có thỏa thuận khác thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ, tài sản bảo đảm theo hợp đồng, thỏa thuận cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm và quy định của pháp luật. Việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, mua, bán nợ của tổ chức tín dụng thực hiện theo quy định của Thống đốc Ngân hàng NI...”, ngoài ra tại khoản 2 Điều 100 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 còn quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng...”. Vì Ngân hàng có chức năng hoạt động tín dụng nên lãi suất sẽ do thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Do đó, nguyên đơn căn cứ vào lãi suất thỏa thuận giữa hai bên tại hợp đồng cho vay, các khế ước giải ngân và nhận nợ để tính lãi là phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

      Như vậy, tổng số tiền lãi tạm tính đến ngày 19/11/2025 là 1.908.344.436 đồng, cụ thể như sau:

      • - Hợp đồng tín dụng số 5945092.20 ngày 27/10/2020: Lãi trong hạn: 915.159.012 đồng; Lãi quá hạn: 955.111.939 đồng; Phí: 0 đồng.
      • - Hợp đồng tín dụng số 4580609.20 ngày 27/10/2020: Lãi trong hạn: 16.572.545 đồng; lãi quá hạn: 21.500.940 đồng; Phí: 0 đồng.

      Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Tú A phải có trách nhiệm thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc, tiền lãi và phí tạm tính đến ngày 19/11/2025 tổng cộng số tiền là 5.799.375.436 đồng.

    3. Về thời hạn thanh toán: Xét Ngân hàng yêu cầu bà Nguyễn Thị Tú A phải thanh toán toàn bộ khoản nợ gốc, lãi và phí một lần ngay sau khi án có hiệu lực. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng nên yêu cầu của Ngân hàng là có cơ sơ chấp nhận.
  7. Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm:
    • - Xét Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: AÐ 583741, số vào số cấp GCN. H00575 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/03/2006, cập nhật tặng cho bà Nguyễn Thị Tú A ngày 14/07/2014 và Hợp đồng thế chấp số công chứng: 026312, Quyền số: 10 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh công chứng ngày 29/10/2020 giữa V2 với bà Nguyễn Thị Tú A đã được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục và quy định của pháp luật, các bên tham gia ký kết hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, công nhận về sự thoả thuận hợp pháp, không trái đạo đức xã hội.
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 45 Luật đất đai năm 2024 quy định “1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có đủ các điều kiện sau đây:

      a) Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất....”

    • - Do bà Tú A là chủ sở hữu hợp pháp đối với Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất toạ lạc tại thửa đất số 302, tờ bản đồ số 1 (BĐĐC) toạ lạc tại địa chỉ số I đường T, phường T, quận T (nay là phường T), Thành phố Hồ Chí Minh nên bà Tú A có đầy đủ các quyền của chủ tài sản. Căn cứ Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 16/4/2025 ghi nhận tài sản thế chấp không thay đổi hiện trạng, kết cấu hiện bà Tú A và gia đình đang sinh sống tại đây. Nội dung hợp đồng thế chấp là để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của bên vay, từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực pháp luật thì các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đã được ghi trong hợp đồng. Nay bà Tú A không có khả năng trả nợ cho V2, thì V2 đề nghị xử lý tài sản thế chấp để thanh toán khoản vay là hoàn toàn phù hợp và đúng quy định pháp luật.
    • - Hợp đồng thế chấp bất động sản giữa các bên có đăng ký biện pháp bảo đảm phù hợp với Điều 298, Điều 319 BLDS nên tài sản thế chấp sẽ bị xử lý khi bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại khoản 2 Điều 299; khoản 6 Điều 320, khoản 2 Điều 324 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn về xử lý tài sản bảo đảm và công nhận hiệu lực của Hợp đồng thế chấp nêu trên.
  8. Về yêu cầu: Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với V2. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho V2 là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

    Trường hợp giá trị tài sản đảm bảo sau khi phát mãi lớn hơn nghĩa vụ thanh toán chọ V2 thì bà Tú A được quyền nhận lại số tiền chênh lệch theo quy định tại khoản 2 Điều 307 Bộ luật dân sự năm 2015.

  9. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải chịu chi phí xem xét tại chỗ là 5.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  10. Xét ý kiến của bà Tú A: Về việc xin VIB tạo điều kiện giảm tổng gốc, lãi với số tiền còn lại bà phải thanh toán cho ngân hàng là 4.300.000.000 đồng, bà Tú A hứa thanh toán đủ trong vòng 1 tháng (kể từ ngày 19/11/2025 đến hết ngày 19/12/2025) cho V2 để tất toán hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, yêu cầu này của bị đơn không được VIB đồng ý nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

    Đối với Hợp đồng thuê nhà số 003996/HĐ-TN ngày 01/6/2022 giữa bà Tú A với ông Nguyễn Vũ Quốc C1, do các đương sự không có ý kiến, yêu cầu gì đối với Hợp đồng thuê nhà này nên nếu có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng 1 vụ án khác, không liên quan đến vụ án này nên HĐXX không xem xét.

  11. Xét ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
  12. Về án phí:

    Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị Tú A phải chịu án phí có giá ngạch trên số tiền phải trả cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 6, Điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Nguyễn Thị Tú A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 113.799.375 đồng. Án phí không có giá ngạch bà Nguyễn Thị Tú A phải chịu là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Tổng cộng số tiền án phí mà bà Nguyễn Thị Tú A phải chịu là 114.099.375 (một trăm mười bốn triệu không trăm chín mươi chín nghìn ba trăm bảy mươi lăm) đồng.

    H1 lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí là 56.337.577 đồng cho nguyên đơn.

    Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68; Điều 91; Điều 92; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; Điều 184; Điều 227, Điều 228, Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Điều 298; khoản 2 Điều 299; 303 ; khoản 2 Điều 307; khoản 1 Điều 139; Điều 319; khoản 6 Điều 320; Điều 323; khoản 2 Điều 324; Điều 385; Điều 400; Điều 401; Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Khoản 1 Điều 45 Luật đất đai năm 2024;
  • - Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;
  • - Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2022);
  • - Điều 7; Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao;
  • - Điều 6; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • - Nghị định 99/2022/NĐ-CP ngày 30/11/2022 của Chính phủ quy định về đăng ký biện pháp bảo đảm;
  • - Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;
  • - Điều 3; Điều 4; Điều 13; Điều 15; Điều 18; Điều 20; Điều 21 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q1.
    • - Buộc bà Nguyễn Thị Tú A phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q1 tổng số tiền gốc, lãi tạm tính đến ngày 19/11/2025 là 5.799.375.436 (năm tỷ bảy trăm chín mươi chín triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn bốn trăm ba mươi sáu) đồng, cụ thể như sau:
      • + Hợp đồng tín dụng số 5945092.20 ngày 27/10/2020: Số tiền nợ gốc: 3.820.200.000 đồng; Lãi trong hạn: 915.159.012 đồng; Lãi quá hạn: 955.111.939 đồng; Phí: 0 đồng. Tổng 5.690.470.951 đồng.
      • + Hợp đồng tín dụng số 4580609.20 ngày 27/10/2020: Số tiền nợ gốc: 70.831.000 đồng; Lãi trong hạn: 16.572.545 đồng; lãi quá hạn: 21.500.940 đồng; Phí: 0 đồng. Tổng: 108.904.485 đồng.
    • - Thời hạn thanh toán: Ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
    • - Địa điểm thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 19/11/2025) bà Nguyễn Thị Tú A còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên nợ gốc chưa trả, theo mức lãi suất thỏa thuận tương ứng với các Hợp đồng tín dụng; Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ đã ký với V2 cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất tiếp tục thanh toán sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
  3. Sau khi bà Nguyễn Thị Tú A trả hết số nợ nêu trên cho bà Nguyễn Thị Tú A thì Ngân hàng phải giải chấp tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 302, tờ bản đồ số: 1 (BĐĐC), địa chỉ: I T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: AÐ 583741, số vào số cấp GCN: H00575 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/03/2006, cập nhật tặng cho bà Nguyễn Thị Tú A ngày 14/07/2014 theo quy định của pháp luật.
  4. Công nhận hiệu lực của Hợp đồng thế chấp số công chứng: 026312, Quyền số: 10 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/10/2020 do Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh công chứng.

    Trong trường hợp bà Nguyễn Thị Tú A không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho V2, Ngân hàng TMCP Q1 có quyền xử lý tài sản bảo đảm theo các phương thức và nội dung quy định tại Hợp đồng thế chấp đã ký hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm cụ thể là: "Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 302, tờ bản đồ số: 1 (BĐĐC), địa chỉ: I T, phường T, quận T (nay là phường T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: AÐ 583741, số vào số cấp GCN. H00575 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/03/2006, cập nhật tặng cho bà Nguyễn Thị Tú A ngày 14/07/2014 và toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị công trình, diện tích cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích nhà đất đã thế chấp để thu hồi nợ vay cho V2. Bất kỳ sự thay đổi, sửa chữa, nâng cấp nào của bà Nguyễn Thị Tú A đối với tài sản thế chấp làm tăng giá trị thực tế của tài sản thế chấp sẽ được coi là bộ phận không thể tách rời thuộc tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay cho V2.

    Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với V2. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho V2 là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

    Trường hợp giá trị tài sản đảm bảo sau khi phát mãi lớn hơn nghĩa vụ thanh toán cho V2 thì bà Tú A được quyền nhận lại số tiền chênh lệch theo quy định tại khoản 2 Điều 307 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Thủ tục xử lý tài sản bảo đảm được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án dân sự.

  5. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc bà Nguyễn Thị Tú A phải trả cho Ngân hàng số tiền xem xét thẩm định tại chỗ là 5.000.000 (năm triệu) đồng.
  6. Án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Bà Nguyễn Thị Tú A phải chịu án phí số tiền là 114.099.375 (một trăm mười bốn triệu không trăm chín mươi chín nghìn ba trăm bảy mươi lăm) đồng.
    • - Hoàn trả toàn bộ số tiền tạm ứng án phí là 56.337.577 (năm mươi sáu triệu ba trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm bảy mươi bảy) đồng cho Ngân hàng TMCP Q1 theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0045570 ngày 16/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh).
    • - Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  7. Quyền kháng cáo:

    Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

    Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

  8. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - VKSND KV9-TP.HCM;
  • - THADS TP.HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Kiều O

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 2868/2025/DS – ST ngày 19/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 2868/2025/DS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger