|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 286/2024/HS-ST Ngày 24-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Phan Văn Cường;
2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Tố Mai, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 243/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 297/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Huỳnh Dung Thảo M, sinh năm 1996, tại tỉnh Bình Dương. Thường trú: Số G, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1970; bị cáo chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/8/2023 đến ngày 06/8/2023 được trả tự do. Đến ngày 05/12/2023 bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay, có mặt.
- Thái Bảo C, sinh năm 1988, tại tỉnh Đồng Tháp. Thường trú: Số A Lô B, khu dân cư T, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Minh K, sinh năm 1962 và bà Huỳnh Thị Thu T, sinh năm 1966; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/8/2023 đến ngày 06/8/2023 được trả tự do. Đến ngày 05/12/2023 bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay, có mặt.
- Phan Văn L (tên gọi khác: S), sinh năm 1992, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thường trú: Số A, đường N, khu phố B, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; trình độ học vấn: lớp 12/12;
2
dân tộc: Hoa; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Thừa C1, sinh năm 1960 và bà Lưu Nguyệt Q, sinh năm 1965; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/8/2023 đến ngày 06/8/2023 được trả tự do. Đến ngày 05/12/2023 bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay, có mặt.
- Cao Thị Thùy T1, sinh năm 2003, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thường trú: Ấp V, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: lớp 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Minh T2, sinh năm 1969 và bà Lê Bích P, sinh năm 1970; bị cáo chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/8/2023 đến ngày 06/8/2023 được trả tự do. Đến ngày 05/12/2023 bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay, có mặt.
- Nguyễn Minh N1, sinh năm 2000, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thường trú: Số I, khu phố I, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trần D1, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Tuấn C2, sinh năm 1973; bị cáo chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/8/2023 đến ngày 06/8/2023 được trả tự do. Đến ngày 05/12/2023 bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay, có mặt.
- Trần Thị Trúc L1, sinh năm 2005, tại tỉnh Hậu Giang. Thường trú: Ấp Đ, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: lớp 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Minh H, sinh năm 1982 và bà Võ Thị C3, sinh năm 1984; bị cáo chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/8/2023 đến ngày 06/8/2023 được trả tự do. Đến ngày 12/12/2023 bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay, có mặt.
- Lưu Cẩm M1 (tên gọi khác: B), sinh năm 1993, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thường trú: Số I, đường L, phường G, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: lớp 10/12; dân tộc: Hoa; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Q1, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị Kim L2, sinh năm 1970; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/12/2023 đến nay, có mặt.
- Trần Võ Yến N2, sinh năm 2003, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thường trú: số G, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Nơi ở hiện nay: số A, đường H, khu phố T, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Kinh doanh nhà trọ; trình độ học vấn: lớp 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (không xác định) và bà Trần Thị L3, sinh năm 1961; bị cáo chưa có chồng, bị cáo có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/8/2023 đến ngày 03/8/2023 được trả tự do. Đến ngày 28/11/2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn C4 đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Dung Thảo M2 và bị cáo Trần Võ Yến
3
N2: Bà Đặng Thị H1 – Luật sư Công ty L6 – Chi nhánh B1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. Địa chỉ: số A, đường E, khu trung tâm hành chính D, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Thái Bảo C: Ông Nguyễn Văn H2 – Luật sư Công ty L7 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B. Địa chỉ: số B, khu phố C, đường N, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phùng Văn T3, sinh năm 1966. Thường trú: số E, Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Anh V, sinh năm 1988, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Thái Bảo C, Cao Thị Thùy T1, Phan Văn L, Trần Thị Trúc L1, Nguyễn Minh N1, Trần Võ Yến N2, Huỳnh Dung Thảo M2, Lưu Cẩm M1 là bạn bè với nhau. Trần Võ Yến N2, Trần Thị Trúc L1, Nguyễn Minh N1 cùng nhau thuê căn hộ số RB06-12, Chung cư C thuộc khu T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (Như là người đứng tên trong hợp đồng thuê nhà, N2 là người thu tiền thuê nhà của L1, Như, sau đó chuyển cho chủ nhà là ông Phùng Văn T3). Các bị cáo đều là những người sử dụng trái phép chất ma tuý.
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 31/7/2023, Trần Võ Yến N2 gọi điện thoại cho Huỳnh Dung Thảo M2 qua căn hộ số RB06-12, Chung cư C thuộc khu T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương để ăn lẩu. Tại căn hộ, ngoài N2 và M2 còn có thêm Thái Bảo C, Phan Văn L và đối tượng D2 (hiện chưa rõ lai lịch, địa chỉ). Tại thời điểm này, D2 có trao đổi với M2 là C nhờ M2 đặt “một chấm khay” (nghĩa là ma tuý loại Ketamine) thì M2 đồng ý. M2 sử dụng mạng xã hội T4 liên lạc với một người có nickname “He sờ lô he sờ ly ly” (chưa rõ lai lịch) hỏi mua ma túy “khay” (loại Ketamine) và được báo giá là 800.000 đồng cùng với 200.000 đồng tiền ship, tổng số tiền là 1.000.000 đồng. Cả hai thống nhất sẽ giao ma tuý cho M2 dưới sảnh chung cư C, thuộc khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. M2 nói lại với D2 và C giá ma túy là 1.000.000 đồng. C đưa cho D2 số tiền 1.000.000 đồng, D2 đưa số tiền này cho M2. Sau đó, M2 đưa tiền cho N2 và cung cấp số điện thoại của N2 cho người bán ma túy nêu trên để liên lạc. M2 xuống gặp một người thanh niên giao hàng (hiện chưa rõ lai lịch, địa chỉ) nhận 01 túi nylon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng (được quấn băng keo màu đen) và nhận đồ ăn. Nhưng do thiếu tiền nên N2 đã đem thêm số tiền 500.000 đồng và cùng M2 nhận ma túy và đồ ăn đã đặt trước đó. Tại căn hộ, N2 để 01 túi nylon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng (được quấn băng keo màu đen) lên ghế sofa, L lấy gói ma túy tháo băng keo ra để chuẩn bị sử dụng. Tuy nhiên, do có việc gấp nên L, C và D2 về trước mà không sử dụng ma tuý. N2 đã cất giấu gói ma tuý trên đầu giường trong phòng ngủ của N2.
4
Khoảng 20 giờ ngày 01/8/2023, Phan Văn L đi cùng Thái Bảo C tới quán C5 ở địa chỉ: số E, đường B, phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đặt bàn và cùng uống bia với nhau. Khoảng 30 phút sau thì Cao Thị Thùy T1, Trần Võ Yến N2, Huỳnh Dung T5 My đến, tiếp sau đó là Nguyễn Minh N1, Lưu Cẩm M1 (tên gọi khác là B) và đối tượng T6 (hiện chưa rõ lai lịch, địa chỉ) đến chơi. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 02/8/2023, cả nhóm tiếp tục chuyển sang quán Z ở địa chỉ: số H, đường H, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để uống rượu. Tại đây, L và C rủ M1 về căn hộ ở Chung cư của N2 để sử dụng ma túy thì M1 đồng ý. Đến khoảng 03 giờ 00 phút cùng ngày, N2, T1, M2, N1, M1, C, L và đối tượng T6 rủ nhau về căn hộ của N2 có địa chỉ RB06-12, Chung cư C, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Khi về đến căn hộ thì có Trần Thị Trúc L1 đang ở nhà vì L1 không đi nhậu chung cùng nhóm.
Tại căn hộ trên, L và M1 vào phòng ngủ của N2 để thay đồ. Lúc này, M1 nhìn thấy ở tủ đầu giường có một túi nylon đựng ma tuý “khay” (loại Ketamine vào ngày 31/7/2023 mà C, L, M2, Nhi D3 đặt mua nhưng chưa sử dụng) nên lấy túi ma túy đổ ra đĩa màu trắng bên trên có một thẻ màu vàng và ống hút làm bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (số dụng cụ này có sẵn trong phòng) rồi M1 hơ nóng, xào ma túy để mọi người cùng nhau sử dụng, gồm có: M1, Như, L1, T1, C, L và đối tượng T6. Riêng M2 và N2 say nên đi ngủ mà không sử dụng ma túy. Ngoài ra, T1 có lấy ra thêm 01 bịch ma túy loại “Chali” (T1 khai nhặt được khi đi chơi ở bar trước đây, số ma túy này là T1 tự lấy mang ra chứ không bàn bạc với ai) để cả nhóm sử dụng bằng cách pha vào nước ngọt loại Red Bull, sử dụng xong ma túy thì các bị cáo cất cái đĩa (còn một ít ma túy) vào trong ngăn kéo tủ đầu giường trong phòng ngủ của N2.
Đến khoảng 11 giờ ngày 02/8/2023, đối tượng T6 và M1 ra về trước. Tại Căn hộ của N2, L1, N1 còn L, C, T1, M2. L bước ra phòng khách gặp C và hỏi mọi người có muốn sử dụng ma túy tiếp hay không thì L dùng điện thoại liên hệ với T1 bằng tài khoản Messenger “Hù Sấm” của L hỏi về việc có sử dụng ma túy nữa hay không, T1 trả lời là “sao cũng được”. Sau đó T1 nhắn tin cho N2 trao đổi rằng nhóm L, C muốn tiếp tục sử dụng ma túy nên N2 tiếp tục nhắn tin cho M2 để M2 tìm người mua ma túy. Đồng thời, C và M2 cũng đã bàn bạc với nhau về việc C nhờ M2 tìm mua ma túy nhưng không đề cập đến việc ai sẽ là người trả tiền số ma tuý này. My nhắn tin qua T4 cho người bán ma túy có nick name “He Sờ lô He Sờ Ly L4” hỏi mua 5 nút (05 viên ma tuý loại thuốc lắc) thì đối tượng này đồng ý và hẹn giao tới Chung cư. Sau đó đối tượng bán ma tuý gửi số tài khoản 1019340684 Ngân hàng V2 (tên chủ tài khoản là Phạm Minh Q2) cho M2 nhưng M2 chưa chuyển tiền trả tiền cho đối tượng bán ma tuý.
Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, M2 dặn Như có người gọi điện thoại thì xuống dưới nhận ma túy “thuốc lắc” thì N1 đồng ý. Sau đó, Như đi xuống gặp một người đàn ông (chưa rõ lai lịch, địa chỉ) nhận 01 túi nylon miệng kéo dính chứa 05 viên nén màu vàng (thuốc lắc) rồi mang lên Căn hộ. Khi có ma túy, L đã tự lấy ma túy (thuốc lắc) sử dụng 01 viên và L lấy đưa cho C 01 viên, L đưa cho T1 hai lần, mỗi lần 1/2 viên, phần ma tuý còn lại thì N1 và N2 sử
5
dụng mỗi người 01 viên. Sau đó, M2 gọi cho Nguyễn Anh V là bạn của M2 đến để chở bị cáo M2 về.
Khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày, V đến căn hộ nêu trên được khoảng 15 phút thì lực lượng Công an phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương tiến hành kiểm tra hành chính Căn hộ số RB0612, Chung cư C khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương kiểm tra, phát hiện tại ngăn kéo tủ trong phòng ngủ có 01 đĩa sứ màu trắng, bên trên đĩa có chất tinh thể màu trắng, 01 thẻ nhựa màu vàng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng không còn nguyên vẹn cuộn thành ống hút, trong phòng khách thu giữ 01 hợp đồng thuê nhà mang tên Nguyễn Minh N1 là người thuê nhà. Ngày 06/8/2023, Lưu Cẩm M1 đến Công an thành phố D đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
* Về vật chứng thu giữ:
- + 01 đĩa sứ màu trắng bên trên đĩa này có chất tinh thể màu trắng (chất tinh thể màu trắng này được thu giữ vào 01 túi nylon miệng kéo dính); 01 thẻ nhựa màu vàng; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng không còn nguyên vẹn cuộn thành ống hút.
- + 01 hợp đồng thuê nhà mang tên Nguyễn Minh N1 là người thuê nhà.
- + 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax, số imei: 356717118754059, gắn sim số 0775035039 của Cao Thị Thùy T1.
- + 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 Promax, số imei: 356714118189774, số Seri G0NDP13D047, gắn sim số 0906685615 của Lưu Cẩm M1.
- + 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS, số imei: 357239097043593, gắn sim số 0901183924 của Nguyễn Minh N1.
- + 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 Promax, màu xanh, số imei: 358032607558401, gắn sim số 0868214868 của Huỳnh Dung Thảo M2.
- + 01 (một) đện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 Promax, số imei: 356955702015152, gắn sim số 0779175323 của Trần Võ Yến N2.
- + 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 Pro, số imei: 356687111915009, gắn sim số 0938238823 của Phan Văn L.
- + 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax, số imei: 356684169785681, gắn sim số 0906480498 của Thái Bảo C.
- + 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax, số imei: 352680946635003, gắn sim số 0762548458 của Trần Thị Trúc L1.
- + 01 (một) USB có ghi chữ VietAn được niêm phong bên trong bì thư, bên ngoài bì thư có hình dấu của Công an phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, chữ ký của người cung cấp Trần Thanh V1, người lập biên bản Nguyễn Thanh T7.
6
- + 01 (một) USB màu đen SanDisk được niêm phong bên trong bì thư, bên ngoài bì thư có hình dấu của Công an phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, chữ ký của người cung cấp Nguyễn Thị T8, người lập biên bản Phạm Ngọc T9.
Tại Kết luận giám định số 472 ngày 10/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B xác định: Một bì thư được niêm phong chứa: 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa chất màu trắng, khối lượng M=0,0531 gam là ma túy, loại Ketamine.
* Về xử lý vật chứng:
- - Đối với số ma túy còn lại sau giám định là M=0,0159 gam, loại Ketamine được niêm phong trong bì thư của Phòng K1 Công an tỉnh B có ghi số vụ 472/PC09, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa màu vàng thu giữ trong vụ án, do liên quan đến việc phạm tội nên đề nghị tịch thu, tiêu huỷ.
- - Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng không còn nguyên vẹn cuộn thành ống hút thu giữ trong vụ án, do liên quan đến việc phạm tội nên đề nghị giao cho Kho bạc Nhà nước xử lý theo quy định.
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax, số imei: 356717118754059, gắn sim số 0775035039 của Cao Thị Thùy T1; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS, số imei: 357239097043593, gắn sim số 0901183924 của Nguyễn Minh N1; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 Promax, số imei: 358032607558401, gắn sim số 0868214868 của Huỳnh Dung T5 My; 01 (một) đện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 Promax, số imei: 356955702015152, gắn sim số 0779175323 của Trần Võ Yến N2; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 Pro, số imei: 356687111915009, gắn sim số 0938238823 của Phan Văn L; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 Promax, số imei: 356714118189774, gắn sim số 0906685615 của Lưu Cẩm M1; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax, số imei: 356684169785681, gắn sim số 0906480498 của T thu giữ trong vụ án, do các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu, sung ngân sách Nhà nước đối với các điện thoại; tịch thu, tiêu huỷ đối với các sim số.
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax, số imei: 352680946635003, gắn sim số 0762548458 của Trần Thị Trúc L1 không sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị trả lại cho bị cáo L1.
- - Đối với 02 USB thu giữ trong vụ án cần nộp lưu theo hồ sơ.
- - Đối với Nguyễn Anh V không liên quan và không tham gia hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không xử lý hình sự đối với V.
- - Đối với đối tượng có nickname T4 “He Sờ lô He Sờ Ly L4” bán ma túy cho bị cáo M2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã xác minh số tài khoản 1019340684 tại Ngân hàng V2 có tên chủ tài khoản là Phạm Minh Q2, sinh năm 1997; thường trú: số G, đường K, tổ C, khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua xác minh tại phường L, thành phố T,
7
Thành phố Hồ Chí Minh xác định hiện nay Phạm Minh Q2 đã bỏ địa phương đi đâu không rõ từ tháng 6/2023, bản thân Q2 không có cha, còn mẹ là Phạm Thị Mộng L5 đã chết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra Quyết định khởi tố bổ sung vụ án “Mua bán trái phép chất ma túy” và tách vụ án để tiếp tục điều tra, làm rõ.
- - Đối với đối tượng T6 và D3 hiện chưa rõ nhân thân lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Tại Cáo trạng số: 256/CT-VKS-DA ngày 31 tháng 7 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Huỳnh Dung Thảo M2, Thái Bảo C, Phan Văn L, Cao Thị Thùy T1, Nguyễn Minh N1, Trần Võ Yến N2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự và bị cáo Trần Thị Trúc L1, Lưu Cẩm M1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Dung Thảo M2 với mức án từ 08 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Thái Bảo C với mức án từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù.
- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Phan Văn L với mức án từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù.
- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Cao Thị Thùy T1 với mức án từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù.
- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N1 với mức án từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù.
- - Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Trần Võ Yến N2 với mức án từ 07 năm 06 tháng tù đến 08
8
năm tù.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Trần Thị Trúc L1 với mức án từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Lưu Cẩm M1 với mức án từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù.
* Về xử lý vật chứng:
- - Đối với: số ma túy còn lại sau giám định là M=0,0159 gam loại Ketamine được niêm phong trong một bì thư của Phòng K1 Công an tỉnh B có ghi số vụ 472/PC09; 01 (một) đĩa sứ màu trắng; 01 (một) thẻ nhựa màu vàng; các sim số: 0775035039, 0901183924, 0868214868, 0779175323, 0938238823, 0906685615, 0906480498. Xét thấy, đây là công cụ, phương tiện phạm tội không có giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu, tiêu hủy.
- - Đối với: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax của Cao Thị Thùy T1; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS của Nguyễn Minh N1; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 Promax của Huỳnh Dung Thảo M2; 01 (một) đện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 Promax của Trần Võ Yến N2; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 Pro của Phan Văn L; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 Promax của Lưu Cẩm M1; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax của Thái Bảo C. Xét thấy, đây là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax gắn sim số 0762548458 thu giữ của bị cáo Trần Thị Trúc L1. Xét thấy, đây là các tài sản cá nhân của bị cáo Trần Thị Trúc L1 không liên quan đến hành vi phạm tội, không phải là vật chứng của vụ án nên đề nghị trả cho bị cáo L1.
Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Dung T5 M2 và bị cáo Trần Võ Yến N2 là bà Đặng Thị H1 trình bày:
Thống nhất với tội danh mà Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo M2 và bị cáo N2. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm đối với bị cáo M2 và N2 như: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo M2 có ông nội là ông Huỳnh Văn M3 được tặng thưởng huy hiệu 65 năm tuổi Đảng và được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, bà nội là Võ Thị T10 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì. Bị cáo N2 đang nuôi con nhỏ sinh năm 2021 đang bị bệnh tự kỷ nặng và đang mang thai 06 tuần tuổi, hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có cha, mẹ mất sớm. Từ những căn cứ trên đề nghị Hội đồng xét xử
9
giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm trở về với gia đình và trở thành công dân tốt cho xã hội.
Người bào chữa cho bị cáo Thái Bảo C là ông Nguyễn Văn H2 trình bày:
Thống nhất với tội danh mà Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo C. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm đối với bị C như: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức thứ yếu nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và trở thành công dân tốt cho xã hội.
Các bị cáo không tranh luận, trong lời nói sau cùng các bị cáo Huỳnh Dung Thảo M2, Thái Bảo C, Phan Văn L, Cao Thị Thùy T1, Nguyễn Minh N1, Trần Võ Yến N2, Trần Thị Trúc L1, Lưu Cẩm M1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với các bị cáo. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 03 giờ và 11 giờ ngày 02/8/2024, bị cáo Trần Võ Yến N2, Nguyễn Minh N1 đã có hành vi cung cấp địa điểm là Căn hộ RB0612, Chung cư C thuộc khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương cho Cao Thị Thùy T1, Thái Bảo C, Phan Văn L và đối tượng T6, cùng bản thân Trần Võ Yến N2, Trần Thị Trúc L1, Nguyễn Minh N1 sử dụng trái phép chất ma túy vào sáng ngày 02/8/2023 và chiều ngày 02/8/2023. Ngoài ra, Nguyễn Minh N1 và Trần Võ Yến N2 còn có hành vi giúp sức cho Huỳnh Dung T5 M2 nhận ma túy mang lên Căn hộ cho các bị cáo sử dụng.
Bị cáo Thái Bảo C, Phan Văn L đã có hành vi bàn bạc, rủ rê người khác mua ma túy, cung cấp ma túy cho Cao Thị Thùy T1, Trần Võ Yến N2, Trần Thị
10
Trúc L1, Nguyễn Minh N1 và đối tượng T6, cùng bản thân Thái Bảo C, Phan Văn L sử dụng trái phép chất ma túy vào sáng và chiều ngày 02/8/2023 (02 lần).
Bị cáo Huỳnh Dung Thảo M2 đã có hành vi giúp sức cho Thái Bảo C, Phan Văn Long cung c ma túy cho Cao Thị Thùy T1, Trần Võ Yến N2, Trần Thị Trúc L1, Nguyễn Minh N1, Thái Bảo C, Phan Văn L và đối tượng T6 sử dụng trái phép chất ma túy vào sáng và chiều ngày 02/8/2023 (02 lần).
Bị cáo Cao Thị Thùy T1 có hành vi bàn bạc với Trần Võ Yến N2, Huỳnh Dung Thảo M2, Phan Văn L đặt mua ma túy, cung cấp ma túy cho Trần Võ Yến N2, Trần Thị Trúc L1, Nguyễn Minh N1, Thái Bảo C, Phan Văn L, đối tượng T6 và bản thân Cao Thị Thùy T1 sử dụng trái phép chất ma túy vào sáng và chiều ngày 02/8/2023 (02 lần).
Hành vi nêu trên của các bị cáo Huỳnh Dung Thảo M2, Thái Bảo C, Phan Văn L, Cao Thị Thùy T1, Nguyễn Minh N1, Trần Võ Yến N2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên”, “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Khoảng 03 giờ ngày 02/8/2024, Trần Thị Trúc L1 đã có hành vi cung cấp địa điểm là Căn hộ RB0612, Chung cư C thuộc khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương cho Cao Thị Thùy T1, Thái Bảo C, Phan Văn L và đối tượng T6, cùng bản thân Trần Võ Yến N2, Trần Thị Trúc L1, Nguyễn Minh N1 sử dụng trái phép chất ma túy (01 lần).
Bị cáo Lưu Cẩm M1 được Phan Văn L và Thái Bảo C rủ đến Căn hộ RB0612, Chung cư C thuộc khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương để sử dụng ma túy. Tại đây, M1 là người lấy túi ma túy, đổ ma túy ra đĩa màu trắng bên trên có một thẻ màu vàng và ống hút làm bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (số dụng cụ này có sẵn trong phòng) rồi M1 hơ nóng, xào ma túy và đưa cho Cao Thị Thùy T1, Thái Bảo C, Phan Văn L, Trần Thị Trúc L1, Nguyễn Minh N1 và đối tượng T6 cùng bản thân Lưu Cẩm M1 sử dụng trái phép chất ma tuý vào sáng ngày 02/8/2023 (01 lần).
Hành vi nêu trên của các bị cáo Trần Thị Trúc L1, Lưu Cẩm M1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Từ những căn cứ trên có đủ cơ sở xác định, Cáo trạng số: 256/CT-VKS-DA ngày 31 tháng 7 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Huỳnh Dung Thảo M2, Thái Bảo C, Phan Văn L, Cao Thị Thùy T1, Nguyễn Minh N1, Trần Võ Yến N2, Trần Thị Trúc L1, Lưu Cẩm M1 với tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội mà các bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước. Về nhận thức, các bị cáo biết ma túy (Ketamine) là loại chất gây
11
nghiện nguy hiểm do Nhà nước độc quyền và thống nhất quản lý. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, để có tác dụng tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Bị cáo M2 có ông nội là ông Huỳnh Văn M3 được tặng thưởng huy hiệu 65 năm tuổi Đảng và được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, bà nội là Võ Thị T10 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì. Bị cáo N2 đang nuôi con nhỏ sinh năm 2021 đang bị bệnh tự kỷ nặng và đang mang thai 06 tuần tuổi. Bị cáo L thuộc dân tộc thiểu số (dân tộc H3), đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự của công dân đối Nhà nước với thời hạn 01 năm 05 tháng. Bị cáo M1 thuộc dân tộc thiểu số (dân tộc H3), sau khi thực hiện hành vi đã đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình. Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo M2, N2, L, M1
[6] Đối với đối tượng có nickname Telegram “He Sờ lô He Sờ Ly L4” bán ma túy cho bị cáo M2 và đối tượng Phạm Minh Quân c1 số tài khoản 1019340684 tại Ngân hàng V2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương đã ra Quyết định khởi tố bổ sung vụ án “Mua bán trái phép chất ma túy” (theo Quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự số 3038/QĐ-ĐCSKT-MT ngày 24/6/2024) và tách vụ án (theo Quyết định tách vụ án hình sự số 3039/QĐ-ĐCSKT-MT ngày 24/6/2024) để điều tra, giải quyết sau là phù hợp với quy định của pháp luật.
[7] Đối với đối tượng T6 và D3 hiện chưa rõ nhân thân lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.
[8] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với: số ma túy còn lại sau giám định là M=0,0159gam loại Ketamine được niêm phong trong một bì thư của Phòng K1 Công an tỉnh B có ghi số vụ 472/PC09; 01 (một) đĩa sứ màu trắng; 01 (một) thẻ nhựa màu vàng; các sim số: 0775035039, 0901183924, 0868214868, 0779175323, 0938238823, 0906685615, 0906480498. Xét thấy, đây là công cụ, phương tiện phạm tội không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
12
- - Đối với: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax của Cao Thị Thùy T1; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS của Nguyễn Minh N1; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 Promax của Huỳnh Dung Thảo M2; 01 (một) đện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 Promax của Trần Võ Yến N2; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 Pro của Phan Văn L; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 Promax của Lưu Cẩm M1; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax của Thái Bảo C. Xét thấy, đây là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax gắn sim số 0762548458 thu giữ của bị cáo Trần Thị Trúc L1. Xét thấy, đây là tài sản cá nhân của bị cáo Trần Thị Trúc L1 không liên quan đến hành vi phạm tội, không phải là vật chứng của vụ án nên Hội đồng xét xử sẽ trả lại tài sản cho cho chủ sở hữu tài sản.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[10] Án phí sơ thẩm: các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Dung Thảo M2, Thái Bảo C, Phan Văn L, Cao Thị Thùy T1, Nguyễn Minh N1, Trần Võ Yến N2, Trần Thị Trúc L1, Lưu Cẩm M1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
1. Về hình phạt:
- - Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Dung Thảo M2 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/12/2023 (bị cáo được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2023 đến ngày 06/8/2023).
- - Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Thái Bảo C 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/12/2023 (bị cáo được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2023 đến ngày 06/8/2023).
- - Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Phan Văn L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/12/2023 (bị cáo được khấu trừ thời hạn tạm
13
giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2023 đến ngày 06/8/2023).
- - Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Cao Thị Thùy T1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/12/2023 (bị cáo được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2023 đến ngày 06/8/2023).
- - Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/12/2023 (bị cáo được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2023 đến ngày 06/8/2023).
- - Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Trần Võ Yến N2 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (bị cáo được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2023 đến ngày 03/8/2023).
- Tiếp tục duy trì Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 93/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đối với bị cáo Trần Võ Yến N2.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Trần Thị Trúc L1 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/12/2023 (bị cáo được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2023 đến ngày 06/8/2023).
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Lưu Cẩm M1 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/12/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy:
- Số ma túy còn lại sau giám định là M=0,0159 gam loại Ketamine được niêm phong trong một bì thư của Phòng K1 Công an tỉnh B có ghi số vụ 472/PC09; 01 (một) đĩa sứ màu trắng; 01 (một) thẻ nhựa màu vàng; các sim số: 0775035039, 0901183924, 0868214868, 0779175323, 0938238823, 0906685615, 0906480498.
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với:
- + 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng không còn nguyên vẹn cuộn thành ống hút.
14
- + 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax, số imei: 356717118754059 của Cao Thị Thùy T1.
- + 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS, số imei: 357239097043593 của Nguyễn Minh N1.
- + 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 Promax, số imei: 358032607558401 của Huỳnh Dung Thảo M2.
- + 01 (một) đện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 Promax, số imei: 356955702015152 của Trần Võ Yến N2.
- + 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 Pro, số imei: 356687111915009 của Phan Văn L.
- + 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 Promax, số imei: 356714118189774 của Lưu Cẩm M1.
- + 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax, số imei: 356684169785681 của Thái Bảo C.
- - Trả lại cho bị cáo Trần Thị Trúc L1 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax, số imei: 352680946635003, gắn sim số 0762548458.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/7/2024, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An)
3. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Huỳnh Dung Thảo M2, Thái Bảo C, Phan Văn L, Cao Thị Thùy T1, Nguyễn Minh N1, Trần Võ Yến N2, Trần Thị Trúc L1, Lưu Cẩm M1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
4. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tuyên |
15
Bản án số 286/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 286/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Dung Thảo M và đồng phạm phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
