|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 286/2025/DS- PT Ngày: 10/6/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Xuân Thảo;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hải Thanh;
Bà Nguyễn Ngọc Hoa.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Trang, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Thị Minh Hải, Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09, 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 578/2024/TLPT-DS ngày 18/11/2024 về việc “Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai; bồi thường thiệt hại và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái, kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5476/2025/QĐPT-DS ngày 22 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Ông Hoàng Minh Đ và bà Trần Thị Hồng D, địa chỉ: Tổ A, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; vắng mặt.
- - Đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn: Ông Hoàng Trọng H, trú tại Tổ F, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái; có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Đức D1 – Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Y; có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
-
* Bị đơn:
- - Ông Nông Văn B; vắng mặt.
- - Bà Hà Thị K; có mặt
- Đều trú tại: Thôn K, xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái.
-
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Nông Văn B1:
- + Chị Diệm Thị Phương T; vắng mặt khi xét xử, có mặt khi tuyên án.
- + Anh Nông Văn T1; có mặt.
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Phạm Kỳ D2, Đoàn Thế H1 – Công ty L2 và cộng sự thuộc Đoàn luật sư thành phố H; có mặt.
-
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
- - Anh Nông Văn T1; địa chỉ: thôn K, xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái; có mặt.
- - Bà Đào Thị K1, địa chỉ: thôn K, xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái; địa chỉ: thôn K, xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái; có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
-
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị Lan A, địa chỉ: Tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt.
- Ông Nguyễn Đức L, địa chỉ: Tổ F, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái; có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
- Ông Tạ Duy H2, địa chỉ: Tổ G, phường M, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Phạm Thị Lan A, ông Nguyễn Đức L: Luật sư Nguyễn Đức D1 – Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Y; có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
-
- Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện theo ủy quyền: Ông Tạ Quang C - Trưởng Phòng Nông nghiệp và Môi trường huyện Y, tỉnh Yên Bái; vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Năm 2015, ông Nông Văn B và anh Nông Văn T1 (con trai ông B) chuyển nhượng cho ông Tạ Duy H2 01 mảnh đất đồi ở thôn K, xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái, diện tích chuyển nhượng khoảng 2.700 m², (chiều mặt đường đi thôn K, xã T là 54m chiều sâu lên đến đỉnh đồi là 50m). Khi mua đất ông B nói diện tích đất này ông đã cho tặng con trai là Nông Văn T1 nên để cho anh Nông Văn T1 làm hợp đồng chuyển nhượng, hai bên thỏa thuận giá chuyển nhượng là 380.000.000₫ (Ba trăm tám mươi triệu đồng), trả trước 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng) còn lại 80.000.000 đồng sau khi hoàn thành các thủ tục liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thanh toán nốt, thỏa thuận này được anh Nông Văn T1, chị Nguyễn Thị T2 ký nhận tại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào năm 2015. Anh T1 là người trực tiếp nhận 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng). Số tiền mua đất của ông B, anh T1 là tiền của ông L, ông H2, và bà Lan A cùng nhau góp vốn, trong đó ông Nguyễn Đức L góp 02 phần, bà Phạm Thị Lan A góp một phần, ông Tạ Duy H2 và ông Hoàng Minh Đ góp một phần. Do thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông B với anh T1 chưa thực hiện xong, nên theo quy định của pháp luật anh T1 không thể ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất giữa hai bên được, nên những người mua đất của anh T1, ông B thỏa thuận ông B phải làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau khi ông B được cấp giấy CNQSDĐ thì chuyển nhượng cho ông Hoàng Minh Đ và vợ là Trần Thị Hồng D, được ông B và anh T1 chấp nhận. Ngày 24 tháng 01 năm 2017 ông B được UBND huyện Y, tỉnh Yên Bái cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG773732 thửa đất số 1 bản đồ trích số 38, số vào sổ cấp GCN: CH00605 diện tích được cấp là 2.583,3m2 loại đất trồng cây lâu năm, theo thỏa thuận giữa hai bên ông Nông Văn B, bà Hà Thị K chuyển nhượng trước cho vợ chồng ông Đ diện tích là 915,4m² để đăng ký xin chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở tại nông thôn, số đất còn lại 1.667,9m2 sau này ông B có trách nhiệm chuyển nhượng nốt theo đúng như hai bên đã thỏa thuận trước đó. Sau khi hợp đồng chuyển nhượng hai bên đã được ký kết, ông H2 đã trả nốt số tiền 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng) cho ông B, anh T1. Đến ngày 02/8/2018, ông Đ, bà D đã được UBND huyện Y cấp Giấy CNQSDĐ số: CO 141281 thửa đất số 01 tờ bản đồ số 47 có diện tích là 915,4m². Khi có GCNQSDĐ ông Đ cùng ông H2, ông L, bà Lan A góp tiền thuê công ty TNHH X san gạt mặt bằng nhưng chưa xong, đến năm 2020 tiếp tục thuê ông Nguyễn Văn C1 ở xã T tiếp tục san gạt và hoàn thiện mặt bằng diện tích đất trên. Đến năm 2021 ông Đ, ông H2, bà Lan A, ông L chuyển nhượng một phần đất để lấy tiền trả tiền thuê san tạo mặt bằng. Khi thấy đất bán được giá cao ông B cùng anh T1, bà K đưa ra nhiều lý do để chiếm đoạt lại toàn bộ diện tích đất đã chuyển nhượng trước đó và còn xây dựng nhà trái phép trên diện tích đất mà gia đình ông Đ, đã được UBND huyện cấp GCNQSDĐ. Do đất đứng tên ông Đ, bà D nên ông H2, ông L, bà Lan A thống nhất để ông Đ, bà D làm đơn gửi UBND xã T, huyện Y giải quyết tranh chấp đất đai nhưng hai bên không hòa giải với nhau được. Đến ngày 22/3/2022, gia đình ông Nông Văn B tiếp tục đào móng và xây nhà trên đất ông Đ, ông H2, bà Lan A, ông L nhận chuyển nhượng từ ông B. Cùng ngày 22/3/2022, ông Đ đã có đơn gửi UBND xã T, huyện Y đình chỉ mọi hoạt động xây dựng nhà trái phép trên đất nêu trên nhưng ông Nông Văn B, bà Hà Thị K cùng anh Nông Văn T1 không chấp hành, vẫn thuê người xây dựng nhà trái phép.
- Về giá trị đất và tài sản trên đất: Đồng ý với giá đất và công trình đất do anh T1 xây dựng theo kết quả của Hội đồng định giá.
Đến nay, đề nghị Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Nông Văn B, bà Hà Thị K và ông Nông Văn T1 phải tháo dỡ toàn bộ công trình trên đất để trả lại cho chúng tôi theo sơ đồ thẩm định là thửa số 2, thửa số 5 và thửa số 6, thửa số 4, thửa số 3. Yêu cầu bà Đào Thị K1 phải tháo dỡ công trình tại thửa số 8, thửa số 7 (sơ đồ thẩm định) đây là phần diện tích đất bà K1 đang sử dụng xây nhà.
- Yêu cầu Tòa án công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2015 đối với phần diện tích 1.667,9m² giữa ông Nông Văn B, bà Hà Thị K với ông Hoàng Minh Đ, bà Trần Thị Hồng D, ông Nguyễn Đức L, bà Phạm Thị Lan A, ông Tạ Duy H2. Buộc ông Nông Văn B, bà Hà Thị K và ông Nông Văn T1 trả lại diện tích 1.667,9m² tại thửa đất số 1, Tờ trích đo bản đồ số 38, địa chỉ thửa đất tại thôn K, xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái (Đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG773732 vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CH00605 do Ủy ban nhân dân huyện Y cấp cho ông Nông Văn B vào ngày 24/01/2017).
* Bị đơn ông Nông Văn B1 và bà Hà Thị K, người đại diện theo ủy quyền, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:
Gia đình ông Nông Văn B có mảnh đất khai phá từ năm 1989 có diện tích là 02 ha (theo Hợp đồng 327) và được Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Yên Bái cấp sổ quản lý vườn rừng (bìa xanh) vào năm 1993 với diện 01 ha tại thôn K, xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái, cấp cho hộ ông Nông Văn B gồm: Chủ hộ: Nông Văn B, vợ: Hà Thị K; Con là: Nông Văn T1, sinh năm 1979; con: Nông Lâm T3, sinh năm 1982; con: Nông Văn T4, sinh năm 1986; con: Nông Thị Thanh T5, sinh năm 1987. Đến năm 2017, gia đình ông B, bà K chuyển diện tích đất rừng 2.583,3m² thành đất ở, ông Nông Văn B trực tiếp là người làm thủ tục cấp phần diện tích này nhưng chưa được nhận sổ. Đến ngày 20/02/2022 (âm lịch) anh Nông Văn T1 (con ông B1) làm nhà trên đất thì có ông Hoàng Minh Đ đưa một số người đến Ủy ban nhân dân xã T yêu cầu giải quyết tranh chấp vì ông Đ cho rằng ông đã được cấp Giấy chứng chứng nhận quyền sử dụng đất (do ông Tạ Duy H2 bán cho ông Đ). Trong phiên họp hòa giải tranh chấp đất đai giữa gia đình với ông Hoàng Minh Đ tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y ngày 17/5/2022, ông Nông Công C2, đại diện cho chính quyền địa phương thừa nhận nguồn gốc đất trên là do vợ chồng ông B, bà K khai phá, sử dụng lâu năm, ổn định, còn ông Hoàng Minh Đ cũng thừa nhận việc chuyển nhượng thửa đất là thông qua ông Tạ Duy H2 chứ ông Đ không trực tiếp nhận chuyển nhượng từ gia đình ông B, bà K.
Đại diện chính quyền xã cũng thừa nhận việc vợ chồng ông B, bà K không đến UBND xã để ký hợp đồng chuyển nhượng ngày 09/02/2017. Nhưng Chủ tịch UBND xã T (ông Hà Văn C3) vẫn ký xác nhận hợp đồng chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 09/02/2017 và ông Đ, bà D được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO141281 đối với diện tích 915,4m², việc này đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông bà, gia đình ông bà đã tố giác hành vi của ông Tạ Duy H2 đến Công an huyện Y và được hướng dẫn khởi kiện ra Tòa án để được giải quyết.
Ủy ban nhân dân xã T đã yêu cầu gia đình ông bà tạm dừng việc xây dựng nhà nhưng do có rất nhiều đoàn đến để làm việc nhưng không giải quyết dứt điểm nên gia đình ông bà vẫn tiếp tục xây dựng nhà và đã dọn vào ở từ ngày 30/12/2022 (âm lịch).
Ngoài ra, ông B1, bà K trình bày: anh T1 với ông Tạ Duy H2 là bạn học, vào khoảng năm 2015 anh T1 có nói với cả hai vợ chồng ông bà là có ông Tạ Duy H2 muốn xúc phần đất của gia đình ông bà để đổ vào khu tái định cư (bãi sân bóng của xã T) và sẽ thanh toán tiền cây cối hoa màu (keo, quế, huyết dụ, đinh lăng), tổng số tiền là 380.000.000 đồng, đồng thời trả lại phần mặt bằng cho gia đình ông bà (chiều mặt đường là 54m, chiều sâu khoảng 20m) nên ông, bà đã đồng ý cho anh T1 thỏa thuận với ông H2, gia đình đã giao sổ quản lý vườn rừng cho anh T1 cầm (còn việc anh T1 chuyển sổ quản lý vườn rừng cho ông H2 lúc nào thì gia đình không biết).
Đến nay, ông bà khẳng định giao dịch mà ông Tạ Duy H2 đã tự ý xác lập để chuyển nhượng 915,4m² thuộc thửa số 1, tờ bản đồ 47 tại thôn K, xã T, huyện Y cho vợ chồng ông Đ, bà D là không có hiệu lực, không có việc chuyển nhượng phần diện tích 1.667,9 m2 đất giữa ông Nông Văn B, bà Hà Thị K với ông Đ, ông H2, bà Lan A, ông L.
Vì vậy, ông bà không đồng ý tháo dỡ công trình, trả lại diện tích đất 915,4m² cho ông Hoàng Minh Đ, bà Trần Thị Hồng D, ông Nguyễn Đức L, bà Phạm Thị Lan A và ông Tạ Duy H2; không đồng ý công nhận giao dịch chuyển nhượng đất năm 2015 đối với 1.667,9m² đất cây lâu năm giữa ông Nông Văn B, bà Hà Thị K với ông Đ, ông H2, bà Lan A, ông L.
Ngày 06/4/2023 ông Nông Văn B1 và bà Hà Thị K có yêu cầu phản tố: tại Đơn phản tố gia đình ông B, bà K xác định không có việc mua bán đất với ông Hoàng Minh Đ, bà Trần Thị Hồng D (không quen biết ông Đ, bà D), sự việc này cũng được ông Đ xác nhận tại buổi hòa giải tranh chấp đất đai ngày 17/5/2022, việc lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/02/2017 là do ông Tạ Duy H2 tự ý xác lập, giả mạo chữ ký của ông B, bà K để chuyển nhượng phần diện tích 915,4m² đất thuộc sở hữu hợp pháp của gia đình ông Nông Văn B sang ông Hoàng Minh Đ, bà Trần Thị Hồng D và ông Đ, bà D đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO141281 vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CH00727 do Ủy ban nhân dân huyện Y cấp ngày 02/8/2018. Như vậy, đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nông Văn B, bà Hà Thị K nên ông B, bà K yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Tuyên bố vô hiệu đối với giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích đất 915,4 m² do ông Tạ Duy H2 tự ý xác lập cho vợ chồng ông Hoàng Minh Đ ngày 09/02/2017;
- - Hủy GCNQSDĐ số CO 141281, số vào sổ CH 00727 do UBND huyện Y cấp cho Hoàng Minh Đ đối với diện tích 915,4 m² thuộc thửa số 1, tờ bản đồ 47 tại thôn K, xã T, huyện Y
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập anh Nông Văn T1 trình bày:
Anh T1 hoàn toàn nhất trí với các ý kiến và yêu cầu của ông B1, bà K và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày. Ngày 10/4/2023 anh T1 có yêu cầu độc lập và được bổ sung ngày 17, 21/4/2023 đối với ông Nguyễn Minh Đ1 và bà Trần Thị Hồng D: anh T1 là con của ông B1, bà K là chủ sử dụng hợp pháp của thửa đất số 1189 có địa chỉ tại thôn K, xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Nguồn gốc đất là của bố mẹ anh T1 được Lâm trường bàn giao đất rừng cho hộ gia đình theo Quyết định 327-CT năm 1992 về chính sách, giao đất, giao rừng. Ông B1, bà K đã được cấp sổ quản lý vườn rừng số 1166N mang tên Nông Văn B1, theo Trích lục bản đồ, thửa đất của ông B1, bà K ký hiệu là RST-KEO 1189, diện tích 18.515m².
Ngày 24/01/2017, Ủy ban nhân dân huyện Y cấp cho gia đình ông B1, bà K Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CG 773732 đối với thửa đất số 01, tờ bản đồ số 38, đối với diện tích đất 2.583m² trong tổng số 18.515m² đất tại địa chỉ thôn K, xã T, huyện Y.
Năm 2021 anh T1 xây nhà tại vị trí đất của ông B1, bà K tại thửa đất số 01, tờ bản đồ số 38 đã được cấp thì gia đình ông Đ1, bà D có đơn ngăn chặn gửi Ủy ban nhân dân xã T, khiến việc xây dựng của gia đình anh T1 bị đình trệ.
Tại phiên họp hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân xã T giữa bà K và ông Đ1 ngày 17/5/2022, ông Nông Công C2 đại diện chính quyền địa phương đã thừa nhận nguồn gốc diện tích đất trên là do ông B1, bà K khai phá, gia đình chúng tôi đã sử dụng lâu năm ổn định; ông Đ1 cũng thừa nhận việc nhận chuyển nhượng thửa đất thông qua ông Tạ Duy H2, chứ ông Đ1 cũng không nhận chuyển nhượng trực tiếp từ ông B1, bà K. Đại diện chính quyền địa phương cũng thừa nhận việc ông B1, bà K không đến Ủy ban nhân dân xã để ký hợp đồng chuyển nhượng đề ngày 09/02/2017, nhưng Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T (ông Hà Văn C3) vẫn ký xác nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/02/2017 và ông Đ1, bà D đã được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Seri CO141281 ngày 02/8/2018 đối với diện tích 915,4m², việc này đã xâm phạm nghiệm trọng đến quyền và lợi ích của gia đình anh T1. Gia đình anh T1 đã gửi đơn tố giác tội phạm tới Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Yên Bái để tố giác hành vi của ông Tạ Duy H2. Ông B1 đã gửi đơn khởi kiện tại Tòa án. Nay anh T1 đề nghị xác định toàn bộ nội dung trong hợp đồng chuyển nhượng đề ngày 09/02/2017 là hoàn toàn giả dối, không có thật. Do đó, đề nghị Tòa án giải quyết các yêu cầu sau:
- - Tuyên bố vô hiệu đối với giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 915,4 m² do ông Tạ Duy H2 tự ý xác lập cho vợ chồng ông Hoàng Minh Đ ngày 09/02/2017;
- - Hủy GCNQSDĐ số CO 141281, số vào sổ CH 00727 do UBND huyện Y cấp cho Hoàng Minh Đ, bà Trần Thị Hồng D đối với diện tích 915,4 m² thuộc thửa số 1, tờ bản đồ 47 tại thôn K, xã T, huyện Y
- - Việc xây dựng nhà của gia đình anh T1 bị đình trệ hơn 1 năm khiến các nguyên vật liệu sắt bị rỉ, gạch, cát, xi măng, chi phí nhân công phát sinh; do sắt bị rỉ buộc phải thay đổi kết cấu của ngôi nhà cụ thể: không đổ mái được phải gia cố khung sắt và lợp tôn. Việc Ủy ban nhân dân xã T và Ủy ban nhân dân huyện Y nhiều lần dừng thi công nên vật liệu chất đống lại, phơi dưới trời mưa gió, làm hao mòn tài sản, cũng như căn nhà đang xây dựng dở dang, tuổi thọ của ngôi nhà không được đảm bảo, không thể hoàn thiện xong và kể cả công trình có hoàn thiện thì chất lượng công trình sẽ không được đảm bảo nên anh T1 yêu cầu ông Đ và ông H2 phải bồi thường các chi phí nêu trên là 168.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi tám triệu đồng).
Anh T1 nhất trí với biên bản thẩm định, biên bản định giá tài sản.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đào Thị K1, người được ủy quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà K1 trình bày:
Sau khi được tham gia buổi xem xét việc thẩm định tại chỗ tại diện tích đất tranh chấp giữa gia đình ông Đ, bà D và gia đình ông B1, bà K, bà K1 mới biết việc ông B1 đã cấp đất và bán phần đất gia đình tôi đã sử dụng từ năm 1989. Gia đình bà K1 về sinh sống tại thôn K, xã T, huyện Y từ năm 1989, khi đó được Ủy ban nhân dân xã T kêu gọi về khai hoang, sử dụng đất. Gia đình bà K1 đã khai phá được 01 thửa đất mặt giáp đường Q, một mặt giáp đường đi thôn K, còn lại là giáp rừng phòng hộ. Gia đình sử dụng ổn định không có tranh chấp với ai. Đến năm 2002 gia đình bà K1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 478/QĐUBH/2002 do Ủy ban nhân dân huyện Y cấp ngày 15/11/2002 cho hộ ông Trần Văn D3 với diện tích 60m². Ngoài diện tích 60m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình bà còn sử dụng đất phía sau và chung quanh chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do giáp taluy cao nên chưa đủ điều kiện để cấp. Nguồn gốc diện tích đất này bà K1 trình bày là thông qua gia đình ông B vào năm 2006. Năm 2016 khi ông Đ, bà D đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Ông B không đến UBND xã để ký hợp đồng chuyển nhượng đất nhưng gia đình ông B đã làm cho bà K1 thuê người đúc đất làm nhà xây kiên cố. Từ đó đến năm 2018 ông D3 (chồng bà K1) chết. Bà K1 biết việc ông B được cấp đất vườn rừng vào năm 1993, còn việc ông B được cấp đất cây lâu năm và chuyển nhượng cho ông Đ, bà D bà K1 không biết và không được ký giáp ranh hay chỉ mốc giới. Nay ông Hoàng Minh Đ, bà Trần Thị Hồng D khởi kiện yêu cầu bà K1 phải trả lại diện tích đất tại thửa số 7 là 54m² và thửa số 13 diện tích 37m²; bồi thường trị giá đất tại thửa số 8 diện tích 42,4m2 (đã làm nhà) bà K1 không đồng ý do phần diện tích đất này gia đình bà K1 đã sử dụng ổn định. Việc ông Đ, bà D được cấp chồng lấn lên diện tích gia đình bà K1 đang sử dụng nên bà K1 không nhất trí bồi hoàn bằng tiền và yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Hoàng Minh Đ và bà Trần Thị Hồng D tại thửa số 7 là 54m² và thửa số 8 diện tích 42,4m2; hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cây lâu năm mang tên ông Nông Văn B tại thửa số 13, diện tích 37m² (theo sơ đồ thẩm định) và hủy một phần diện tích tại thửa số 9, diện tích 3,3m²; thửa số 10, diện tích 1,5m²; thửa số 11, diện tích 13,4m2; thửa số 12, diện tích 1,6m²; thửa số 14, diện tích 31,7m2; thửa số 15, diện tích 33,6m²; thửa số 16, diện tích 46,6m² tại sổ đất vườn rừng của hộ ông Nông Văn B.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tạ Duy H2, ông Nguyễn Đức L, bà Phạm Thị Lan A, người được ủy quyền, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông L, bà Lan A thống nhất trình bày:
Vào tháng 11 năm 2015, ông Nông Văn B và anh Nông Văn T1 có gặp ông L, bà Lan A, anh H2. Ông B, anh T1 thỏa thuận bán đất cho ông H2, ông L, bà Lan A diện tích 2.700m² đất trồng cây lâu năm (chiều mặt đường là 54m, chiều sâu là 50m) (chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) với giá là 380.000.000 đồng. Ông B viết giấy tặng cho đất cho anh T1 tại phòng làm việc của ông L. Sau đó ông H2 lấy mẫu giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất, điền các thông tin có liên quan đến bên chuyển nhượng là anh T1 và vợ là chị T2. Hai bên thống nhất bên nhận chuyển nhượng sẽ thực hiện các thủ tục liên quan đến đất đai và nhận các giấy tờ liên quan đến khu đất và thanh toán trước cho bên chuyển nhượng là 300.000.000 đồng, sau khi hoàn thiện các thủ tục theo quy định về chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đăng ký đất đai thì bên chuyển nhượng sẽ thanh toán nốt số tiền còn lại là 80.000.000 đồng. Khi thống nhất các nội dung thì anh T1 đã ký vào giấy chuyển nhượng tại Văn phòng của ông L, vì chị T2 không có mặt nên anh T1 cầm giấy chuyển nhượng viết tay để đi lấy chữ ký của vợ. Đến khoảng 14h30 phút cùng ngày anh T1 quay lại đưa cho ông H2 giấy chuyển nhượng có chữ ký của anh T1 và vợ là chị T2 và ông H2 là người trả số tiền 300.000.000 đồng được anh T1 xác nhận trong giấy chuyển nhượng. Giấy chuyển nhượng viết tay và các giấy tờ viết tay khác ông L đã giao nộp cho cơ quan Công an.
Việc mua đất của ông B, anh T1 là có phần góp vốn của ông L, bà Lan A và ông H2 (cụ thể ông L góp 2 phần, bà Lan A 1 phần, H2 góp 1 phần nhưng do anh H2 không có đủ tiền nên có gọi ông Hoàng Minh Đ góp chung phần với ông H2). Tất cả thống nhất để người đứng tên bên nhận chuyển nhượng đất là vợ chồng ông Đ, bà D .
Do thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông B với anh T1 chưa đảm bảo theo quy định của pháp luật nên mọi người cùng thống nhất để ông B làm các thủ tục xin cấp GCNQSDĐ sau khi được cấp GCNQSDĐ thì chuyển nhượng cho ông H2, bà Lan A, ông L, ông Đ mà không phải qua anh T1. Đến ngày 24/01/2017, ông Nông Văn B được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số: CG773732 thửa đất số 1 bản đồ 38 diện tích được cấp là: 2.583,3m2 loại đất trồng cây lâu năm theo đúng quy định của pháp luật, ông H2 là người trực tiếp nộp tiền thuế cho ông B và ký tên người nộp là ông Nông Văn B.
Khi ông B được cấp GCNQSDĐ thì ông H2 lập hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa bên chuyển nhượng là ông Nông Văn B và bà Hà Thị K với bên nhận chuyển nhượng là ông Hoàng Minh Đ và bà Trần Thị Hồng D với diện tích là 915,4m² (do phần đất ông H2, bà Lan A, ông L, ông Đ mua của ông B là đất đồi khá cao chưa có điều kiện để san tạo toàn bộ mặt bằng nên thống nhất bước đầu chỉ làm hợp đồng chuyển nhượng với diện tích là 915,4m² để đăng ký chuyển đổi đất thành đất ở nông thôn, diện tích đất còn lại ông B sẽ có trách nhiệm chuyển nhượng nốt cho những người mua sau). Việc ký hợp đồng chuyển nhượng nêu trên được thực hiện tại Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Y do bà K không có mặt nên anh T1 là người cầm hợp đồng về cho bà K ký, sau đó anh T1 là người trực tiếp chuyển lại hợp đồng cho ông H2 và ông H2 trực tiếp mang hợp đồng đến UBND xã T, huyện Y để chứng thực hợp đồng theo quy định. Đến ngày 02/8/2018 UBND huyện Y đã cấp GCNQSDĐ cho ông Hoàng Minh Đ và bà Trần Thị Hồng D diện tích đất 915,4m² tại thôn K xã T, huyện Y. Về số tiền còn lại 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng) hai bên thỏa thuận khi hoàn thiện thủ tục chuyển nhượng thì sẽ thanh toán nốt. Sau khi hoàn thiện thủ tục giấy tờ (không nhớ thời gian cụ thể) thì ông H2 điện thoại cho anh T1 xuống nhận nốt số tiền nhưng do anh T1 bận nên có bảo anh T3 là em trai ruột của anh T1 đưa ông B xuống ký nhận chuyển tiền. Ông H2 đã chuyển khoản cho anh T1 80.000.000 đồng, anh T1 đã gọi cho ông B nói đã nhận tiền nên ông B ký giấy đã nhận nốt số tiền 80.000.000 đồng. Phần diện tích cây lâu năm 2.583,3m² hiện nay mới sang tên ông Hoàng Minh Đ, bà Trần Thị Hồng D là 915,4m² phần còn lại ông B chưa sang tên là 1.667,9m².
Đến nay, ông H2, ông L bà Lan A đều nhất trí với yêu cầu của nguyên đơn:
- Buộc ông Nông Văn B, bà Hà Thị K và ông Nông Văn T1 phải trả lại diện tích đất 915,4 m² thuộc thửa số 1, tờ bản đồ 47 tại thôn K, xã T, huyện Y mục đích sử dụng là đất ở nông thôn đã được cấp Giấy CNQSDĐ số CO 141281, số vào sổ CH 00727 do UBND huyện Y cấp cho ông Hoàng Minh Đ, bà Trần Thị Hồng D.
- Yêu cầu Tòa án công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2015 đối với phần diện tích 1.667,9m² giữa ông Nông Văn B, bà Hà Thị K với ông Hoàng Minh Đ, bà Trần Thị Hồng D, ông Nguyễn Đức L, bà Phạm Thị Lan A, ông Tạ Duy H2. Buộc ông Nông Văn B, bà Hà Thị K và ông Nông Văn T1 trả lại diện tích 1.667,9m² tại thửa đất số 1, Tờ trích đo bản đồ số 38, địa chỉ thửa đất tại thôn K, xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái (Đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG773732 vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CH00605 do Ủy ban nhân dân huyện Y cấp cho ông Nông Văn B vào ngày 24/01/2017).
- Về giá trị đất và tài sản trên đất: Đồng ý giá đất và công trình đất do anh T1 xây dựng theo kết quả của Hội đồng định giá.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Yên Bái:
Tại Văn bản số 264/TNMT ngày 30/6/2023 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Y trình bày ý kiến của người đại diện theo ủy quyền như sau:
- - Về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Căn cứ Điều 79 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai ngày 29/11/2013; Căn cứ khoản 2 Điều 9 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T7 quy định về hồ sơ địa chính. Qua kiểm tra trình tự, thủ tục thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hoàng Minh Đ, bà Trần Thị Hồng D đảm bảo theo đúng quy định.
- - Về ý kiến giải quyết: Căn cứ khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013, quy định: Tranh chấp đất đai và đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết'. Ủy ban nhân dân huyện Y đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Lời khai của những người làm chứng:
- - Ông Hoàng Cao N trình bày: Vào khoảng năm 1985 vợ chồng bà K1 sinh sống trên hồ T được Ủy ban nhân dân xã T vận động vào sinh sống trên đất liền và được Ủy ban nhân dân cho đất tại khu ở hiện nay (lúc đó chưa ai được cấp sổ). Lúc đầu gia đình bà K1 làm túp lều sát ta luy rất cao, sau đó đánh đất và xây xong nhà không thấy có ai tranh chấp gì.
- - Ông Lương Văn S (X), ông Trần Ngọc A1 trình bày: Ông D, bà K1 ở trên diện tích đất hiện đang ở từ năm 1985, khi đó đằng sau nhà là đồi cao, sau này được đánh đất làm nhà xây kiên cố. Từ đó đến năm 2023 không có tranh chấp với ai.
- - Ông Triệu Ngọc Y trình bày: Ông N là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T. Trước năm 1985 gia đình bà K1 sống trên hồ T, từ năm 1985 gia đình bà K1 vào định canh tại khu vực đất hiện nay đang ở (lúc đó chưa ai làm sổ đỏ). Sau nhiều năm gia đình bà K1 san gạt ta luy mở rộng diện tích. Năm 2017 gia đình bà K1 đã xây nhà kiên cố và công trình trên diện tích đất đã san gạt mà không có tranh chấp với ai.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái, quyết định: Căn cứ vào các Điều 26, Điều 34, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 158, khoản 1 Điều 165, Điều 166, Điều 207, 227, 228, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3, 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; các Điều 100, 166, 167, 168, 169, 170, 179, 188, 202 và Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; Các Điều 116, 117, 119, 123, 129, 131, 401, 500, 501, 502, 503 của Bộ luật Dân sự 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1, 4, 5, 6 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Minh Đ, bà Trần Thị Hồng D về việc buộc ông Nông Văn B, bà Hà Thị K và ông Nông Văn T1 trả lại cho ông Hoàng Minh Đ, bà Trần Thị Hồng D và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Tạ Duy H2, ông Nguyễn Đức L, bà Phạm Thị Lan A diện tích đất ở là: 915,4m² (Đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO141281 vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH00727 do Ủy ban nhân dân huyện Y cấp cho ông Hoàng Minh Đ, bà Trần Thị Hồng D vào ngày 02/8/2018).
- Ông Hoàng Minh Đ, bà Trần Thị Hồng D được sử dụng diện tích đất tại thửa số 2 (sơ đồ thẩm định) diện tích 297,8m² thuộc thửa số 1, tờ bản đồ 47 tại thôn K, xã T, huyện Y đã được UBND huyện Y cấp Giấy CNQSDĐ số CO 141281, số vào sổ CH 00727 cấp cho ông Hoàng Minh Đ và bà Trần Thị Hồng D. Hình thể thửa đất được giới hạn bởi các điểm C, C1, B1, B, B13, B14; thửa số 5 (sơ đồ thẩm định) diện tích 68,1m² và thửa số 06 (sơ đồ thẩm định) diện tích 151,7m² thuộc thửa số 1, tờ bản đồ 47 tại thôn K, xã T, huyện Y đã được UBND huyện Y cấp Giấy CNQSDĐ số CO 141281, số vào sổ CH 00727 cấp cho ông Hoàng Minh Đ và bà Trần Thị Hồng D. Hình thể thửa đất được giới hạn bởi các điểm B9, B8, B7, B6, B5, B4, B15, A1, A. (Vị trí, hình thể và kích thước các cạnh có sơ đồ kèm theo).
- Ông Nông Văn T1 sử dụng diện tích đất tại thửa số 3 (sơ đồ thẩm định) diện tích 263,3m², trị giá 658.250.000 đồng, thửa số 4 (sơ đồ thẩm định) diện tích 29,1m², trị giá 72.750.000 đồng và thửa số 27 (sơ đồ thẩm định) diện tích 9,0m², trị giá 22.500.000 đồng thuộc thửa số 1, tờ bản đồ 47 tại thôn K, xã T, huyện Y đã được UBND huyện Y cấp Giấy CNQSDĐ số CO 141281, số vào sổ CH 00727 cấp cho ông Hoàng Minh Đ và bà Trần Thị Hồng D. Hình thể thửa đất được giới hạn bởi các điểm B, B1, B3, B15, B4, B5, B6, B7, B8, B9, B10, B14, B12, B11 (Vị trí, hình thể và kích thước các cạnh có sơ đồ kèm theo).
- - Buộc ông Nông Văn T1 phải trả số tiền tương ứng với số diện tích đất ông Nông Văn T1 sử dụng cho ông Hoàng Minh Đ, bà Trần Thị Hồng D là 753.500.000 đồng.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Đ, bà D cho đến khi thi hành xong, ông T1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- - Buộc ông Nông Văn T1 phải thu dọn toàn bộ tài sản và cây trồng trên diện tích đất tại thửa số 5 (sơ đồ thẩm định) để trả lại diện tích đất cho ông Hoàng Minh Đ, bà Trần Thị Hồng D.
- Buộc ông Nông Văn B, bà Hà Thị K phải thu dọn tài sản trên đất tại các thửa số 2 và thửa số 6 trên sơ đồ thẩm định để trả đất cho ông Hoàng Minh Đ và bà Trần Thị Hồng D.
- Buộc ông Nông Văn B và bà Hà Thị K phải trả số tiền tương ứng với diện tích đất bà Đào Thị K1 đang sử dụng tại thửa số 7 (sơ đồ thẩm định) diện tích 54m², trị giá 135.000.000 đồng và thửa số 8 (sơ đồ thẩm định) diện tích 42,4m², trị giá 106.000.000 đồng, tổng số tiền là 241.000.000 đồng cho ông Hoàng Minh Đ, bà Trần Thị Hồng D.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Đ, bà D mà ông B, bà K không trả hết số tiền kể trên thì hàng tháng ông B, bà K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Ông Hoàng Minh Đ, bà Trần Thị Hồng D, ông Tạ Duy H2, ông Nguyễn Đức L và bà Phạm Thị Lan A có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Minh Đ, bà Trần Thị Hồng D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tạ Duy H2, ông Nguyễn Đức L, bà Phạm Thị Lan A yêu cầu công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2015 đối với phần diện tích 1.667,9m² với ông Nông Văn B, bà Hà Thị K về việc buộc ông Nông Văn B, bà Hà Thị K và ông Nông Văn T1 trả lại diện tích 1.667,9m² tại thửa đất số 1, Tờ trích đo bản đồ số 38, địa chỉ thửa đất tại thôn K, xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái (Đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG773732 vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CH00605 do Ủy ban nhân dân huyện Y cấp cho ông Nông Văn B vào ngày 24/01/2017);
- Buộc ông Nông Văn B và bà Hà Thị K phải trả cho ông Hoàng Minh Đ bà Trần Thị Hồng D, ông Nguyễn Đức L, bà Phạm Thị Lan A, ông Tạ Duy H2 số tiền 310.000.000 đồng.
- Kể từ ngày ông Đ, bà D, ông L, bà Lan A, ông H2 có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, ông B, bà K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Nông Văn B bà Hà Thị K về yêu cầu tuyên bố vô hiệu đối với giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 915,4m² do ông Tạ Duy H2 tự ý xác lập cho vợ chồng ông Hoàng Minh Đ ngày 09/02/2017:
- Tuyên bố hợp đồng vô hiệu một phần đối với diện tích đất tại thửa số 07 diện tích 54m² và thửa số 08 diện tích 42,4m2 (theo sơ đồ thẩm định) nằm trong diện tích đất 915,4m² mục đích sử dụng là đất ở nông thôn tại thửa số 1, tờ bản đồ số 47 tại thôn K, xã T, huyện Y đã được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số CO141281 vào sổ vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH00727 ngày 02/8/2018 cấp cho ông Hoàng Minh Đ và bà Trần Thị Hồng D.
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Nông Văn B, bà Hà Thị K về hủy Giấy CNQSDĐ số CO 141281, số vào sổ CH 00727 do UBND huyện Y cấp cho ông Hoàng Minh Đ và bà Trần Thị Hồng D đối với diện tích 915,4 m² thuộc thửa số 1, tờ bản đồ 47 tại thôn K, xã T, huyện Y ngày 02/8/2018:
- Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO141281 vào sổ vào sổ cấp giấy chứng nhận CH00727 ngày 02/8/2018 do Ủy ban nhân dân huyện Y cấp cho ông Hoàng Minh Đ và bà Trần Thị Hồng D đối với diện tích đất tại thửa số 07 diện tích 54m² và thửa số 08 diện tích 42,4m2 (theo sơ đồ thẩm định) nằm trong diện tích đất 915,4m² mục đích sử dụng là đất ở nông thôn tại thửa số 1, tờ bản đồ số 47 tại thôn K, xã T, huyện Y.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nông Văn T1 về việc yêu cầu Tòa án buộc ông Hoàng Minh Đ, bà Trần Thị Hồng D và ông Tạ Duy H2 phải bồi thường các khoản tiền do công trình bị thiệt hại là 168.000.000 đồng.
- Đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Đào Thị K1 về yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 141281, số vào sổ CH 00727 do UBND huyện Y cấp cho ông Hoàng Minh Đ, bà Trần Thị Hồng D tại thửa số 07 (sơ đồ thẩm định) diện tích 54m² và tại thửa số 8 (sơ đồ thẩm định) diện tích 42,4m2 nằm trong diện tích 915,4 m² thuộc thửa số 1, tờ bản đồ 47 tại thôn K, xã T, huyện Y.
Các đương sự có trách nhiệm thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật Đất đai, làm thủ tục tại cơ quan có thẩm quyền để được chỉnh lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 29/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái ban hành Quyết định kháng nghị số 04, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại.
Ngày 29/8/2024, nguyên đơn- ông Hoàng Minh Đ, bà Trần Thị Hồng D kháng cáo toàn bộ bản án.
Ngày 21/8/2024, bị đơn đơn Nông Văn B1, bà Hà Thị K kháng cáo toàn bộ bản án.
Ngày 29/8/2024, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị Lan A, ông Nguyễn Đức L, ông Tạ Duy H2 kháng cáo toàn bộ bản án
Ngày 21/8/2024, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là ông Nông Văn T1 kháng cáo toàn bộ bản án.
Ngày 29/8/2024, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là bà Đào Thị K1 kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên toà phúc thẩm,
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Hoàng Trọng H giữ nguyên kháng cáo và trình bày thêm: GCNQSD đất mang tên ông Đ, bà D, bà Lan A, ông L, ông H2 và vợ chồng ông Đ đều thừa nhận cùng nhau góp tiền mua thửa đất 2.700m² đất của ông B1. Do đó, ông Đ có quyền khởi kiện buộc ông B1 tiếp tục thực hiện hợp đồng. GCNQSD dất chỉ cấp cho ông B1 nên ông B1 có toàn quyền định đoạt, trong Hợp đồng có chữ ký của ông B1 nên hợp pháp. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn và ngư ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Lan A và anh L - Luật sư Nguyễn Đức D1 có quan điểm: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn tháo dỡ toàn bộ công trình trên đất do đã xây dựng trái phép trên đất của nguyên đơn nhưng Tòa án sơ thẩm lại không chấp nhận mà buộc bị đơn trả tiền là không đúng quy định của pháp luật. Việc không chấp nhận yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng năm 2015 là không đúng: Ông Đ, bà Lan A, ông H2, ông L đều thừa nhận cùng nhau mua 2.700m² đất, CNGQSD đất chỉ cấp cho mình ông B1 nên ông B1 hoàn toàn có quyền chuyển nhượng mà không cần chữ ký của bà K. Tòa án sơ thẩm buộc phía bị đơn trả tiền cho bà K1 241.000.000 đồng trong khi diện tích đất tại thửa 7, 8 nằm trong diện tích 915,4m² đã được cấp GCNQSD đất cho nguyên đơn, bà K1 đã thừa nhận và rút yêu cầu độc lập. Nguyên đơn yêu cầu trả lại đất thì Tòa án lại buộc bị đơn trả tiền cho bà K1 là giải quyết không đúng pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ông Tạ Duy H2: Vẫn giữ nguyên kháng cáo và nhất trí với quan điểm của Luật sư Nguyễn Đức D1.
Anh Nông Văn T1 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vẫn giữ nguyên kháng cáo và trình bày: Căn cứ lời khai của ông H2 tại Cơ quan điều tra, Biên bản làm việc tại UBND xã thể hiện: Ông H2 tự làm Hợp đồng, không có việc ông B1 nhận 60 triệu đồng, không có việc bàn giao mốc giới tại thực địa; thửa đất được cấp cho hộ gia đình nên nếu chỉ có một chữ ký của ông B1 thì không có giá trị. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử hủy án sơ thẩm để xét xử lại.
Bà Hà Thị K giữ nguyên kháng cáo và trình bày: Tôi không được mua bán, ký giấy tờ gì cả. Số tiền 370 triệu đồng là tiền bán đất cho ông H2 để thực hiện dự án chứ không phải bán quyền sử dụng đất, sau đó cả gia đình họp cả 6 người thống nhất để anh T1 quản lý. Đề nghị hủy GCNQSD đất đã cấp cho ông Đ, bà D.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn - Luật sư Phạm Kỳ D2, Đoàn Thế H1 có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của Luật sư đã thể hiện trong Bản luận cứ gửi cho Hội đồng xét xử và trình bày thêm: Căn cứ lời khai của ông L, bà Lan A thể hiện ông Đ không góp vốn, không có giấy tờ về việc góp vốn, do đó không có căn cứ cho rằng vợ chồng ông Đ là một bên chủ thể của Hợp đồng nên không có quyền khởi kiện Việc thực hiện hợp đồng không có việc bàn giao ngoài thực địa. Do đó, Hợp đồng năm 2017 vô hiệu. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn và anh T1: Hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại.
Bà Đào Thị K1 trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung trong đơn kháng cáo của bà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm:
- - Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm, Thẩm phán chủ tọa và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và Kháng nghị của Viện trưởng VKSND tỉnh Yên Bái trong hạn luật định, nên được chấp nhận để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- - Về nội dung: Sau khi phân tích các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, vị đại diện VKSND cấp cao tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng VKSND tỉnh Yên Bái: Hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để xét xử lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, lời trình bày của các bên đương sự và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái đảm bảo về thời hạn, đúng quy định về hình thức, nội dung theo các điều 272, 273, 279, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị Lan A, đại diện UBND huyện Y nhưng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ ba và có đơn xin xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những người này theo quy định Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Tòa án cấp sơ thẩm xác định về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết là có căn cứ, đúng quy định.
[1.3] Về xác định tư cách đương sự: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu: Buộc ông Nông Văn B, bà Hà Thị K và ông Nông Văn T1 phải tháo dỡ toàn bộ công trình trên đất để trả lại cho chúng tôi theo sơ đồ thẩm định là thửa số 2, thửa số 5 và thửa số 6, thửa số 4, thửa số 3. Yêu cầu bà Đào Thị K1 phải tháo dỡ công trình tại thửa số 8, thửa số 7 (sơ đồ thẩm định) đây là phần diện tích đất bà K1 đang sử dụng xây nhà. Ông Nông Văn T1 xác nhận: ông là người đứng ra xây nhà và hiện nay gia đình ông đang sinh sống trên đó, bà K1 xác nhận nhà và các công trình tại thửa số 8, thửa số 7 (theo Sơ đồ thẩm định) là của bà. Như vậy, căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, lẽ ra phải xác định ông Nông Văn T1, bà Đào Thị K1 là bị đơn trong vụ án. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm lại xác định ông Nông Văn T1, bà Đào Thị K1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng, không phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[2] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái và kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Hội đồng xét xử thấy:
[2.1] Tại Đơn khởi kiện ngày 26/7/2023 của nguyên đơn là ông Hoàng Minh Đ và bà Trần Thị Hồng D (BL590) yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Đào Thị K1 phải trả lại cho vợ chồng chúng tôi diện tích đất thổ cư tại thửa số 7 là 54,0m², có trị giá đất là 135.000.000 đồng và diện tích cây lâu năm tại thửa số 13, diện tích 37,0m² có trị giá 962.000 đồng (theo kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản); đối với diện tích đất tại thửa số 8 (42,4m²): Bà Đào Thị K1 đã xây dựng một phần nhà, không thể tháo dỡ. Do đó, chúng tôi nhất trí theo định giá của Hội đồng định giá là 106.000.000 đồng. Buộc bà Đào Thị K1 phải trả lại cho chúng tôi số tiền là 106.000.000 đồng. Yêu cầu khởi kiện này đã được Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái thụ lý giải quyết theo Thông báo về việc thụ lý vụ án số 06d/TB-TLVA ngày 27/7/2023 (BL596). Ông Đ, bà D đã nộp tiền tạm ứng án phí (BL595). Theo Quyết định về việc tách vụ án dân sự số 01/2023/QĐCVA ngày 17/10/2023, Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái chỉ tách vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nông Văn B1, bà Hà Thị K (là bị đơn trong vụ án này) đối với bà Đào Thị K1 tranh chấp các thửa số 7, 8, 9, 10, 12, 13, 14, 15, 16 (theo kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản) (BL656-657). Tại Thông báo về việc thụ lý vụ án số 02/TBTL- TA ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái (BL684-686) đã thụ lý theo Đơn khởi kiện của ông Hoàng Minh Đ, bà Trần Thị Hồng D và theo Quyết định chuyển vụ án số 01/2024/QÐST-DS ngày 24/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái (BL681-681A). Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tỉnh Yên Bái không xem xét, nhận định về yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Minh Đ, bà Trần Thị Hồng D với bà Đào Thị K1, tại phần quyết định của Bản án sơ thâm không tuyên chấp nhận hay không chấp nhận đối với yêu cầu này. Như vậy, Bản án sơ thẩm đã không giải quyết hết yêu cầu của đương sự.
[2.2] Đối với Hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 09/02/2017 giữa ông B1, bà K với ông Đ bà D:
Việc Tòa án cấp sơ thẩm tách việc tranh chấp của các bên đương sự đối với các thửa 7, 8 (theo sơ đồ thẩm định) hiện cho bà Đào Thị K1 quản lý để giải quyết trong vụ án khác dẫn đến việc giải quyết vụ án này không triệt để, không đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự, bởi lẽ: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải phải tháo dỡ toàn bộ công trình trên đất để trả lại toàn bộ 915,4m² đất ở nông thôn tại thửa số 1, tờ bản đồ số 37 tại thôn K, xã T, huyện Y đã được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số CO141281 vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH00727 ngày 02/8/2018. Bị đơn có yêu cầu phản tố đề nghị tuyên vô hiệu đối với Hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 09/02/2017. Do đó, cần phải xác định, làm rõ: Ngoài các thửa khác thì thửa 7, 8 có thuộc quyền quản lý, sử dụng của bị đơn hay không? Bị đơn có quyền chuyển nhượng đối với hai thửa đất này không? Thời điểm bà K1 xây nhà là trước hay sau khi nguyên đơn và bị đơn ký hợp đồng chuyển nhượng để từ đó xác định rõ có việc mua bán chuyển nhượng không đúng hiện trạng sử dụng đất hay không? Và nếu xác định thửa đất 7, 8 là của ông B1, bà K và Hợp đồng chuyển nhượng là hợp pháp thì có xác định Hợp đồng vô hiệu đối với thửa 7, 8 không? Do đó, Hội đồng xét xử thấy: Việc Tòa án cấp sơ thẩm chỉ nhận định: Việc chuyển nhượng và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng hiện trạng sử dụng đất để từ đó xác định giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nông Văn B, bà Hà Thị K và ông Hoàng Minh Đ, bà Trần Thị Hồng D vô hiệu một phần đối với diện tích đất tại thửa số 07 diện tích 54m² và thửa số 08 diện tích 42,4m2 (theo sơ đồ thẩm định) là chưa xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ. Do xác định Hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu một phần nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông B1, bà K phải bồi thường cho nguyên đơn 241.000.000 đồng trong khi quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm chưa lập biên bản giải thích cho các đương sự về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu là thiếu sót, không đúng hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cáo về việc giải quyết ợp đồng vô hiệu tại Công văn số 01/2017/CV-TANDTC ngày 07/4/2017.
Về việc xác định tính hợp pháp của Hợp đồng:
Theo Thông báo số 34/TB-ĐTTH ngày 25/8/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Yên Bái: Phòng K2 từ chối giám định chữ ký “Kiến”, chữ viết “Hà Thị K” dưới mục “BÊN CHUYỂN NHƯỢNG” do tài liệu mẫu so sánh được cung cấp không đầy đủ. Bà K không thừa nhận chữ ký đó là của mình; UBND xã T thừa nhận các bên không ký Hợp đồng tại trụ sở, không chứng kiến việc các bên ký kết là vi phạm quy định về công chứng, chứng thực hợp đồng. Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập lời khai của những người liên quan, nhân chứng biết việc nhưng đã nhận định: Bà K tự nguyện ký kết Hợp đồng là không khách quan, ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự. Mặt khác, tại đơn kháng cáo và tại phiên tòa hôm nay, bà K đề nghị được giám định chữ ký của bà trong Hợp đồng chuy ển như ợng và cung cấp thêm chữ ký trong Hợp đồng chuyển nhượng đất năm 2009 mà bà ký tại UBND xã T. Do đó, Hội đồng xét xử thấy: cần hủy Bản án sơ thẩm để giám định chữ ký “Kiến” trong Hợp đồng chuyển nhượng theo đề nghị của bà K đồng thời tiến hành lấy lời khai của những người liên quan, nhân chứng để có căn cứ làm rõ: Nếu bà K không được ký vào Hợp đồng chuyển nhượng thì khi nào bà K biết về Hợp đồng này? Bà K có đồng ý với việc chỉ mình ông B1 đứng ra chuyển nhượng đất hay không? để có đủ căn cứ xác định: Hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 09/02/2017 giữa ông B1, bà K với ông Đ bà D có hợp pháp hay không? Nếu vô hiệu thì vô hiệu toàn bộ hay một phần.
[2.3] Đối với yêu cầu công nhận hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2015 đối với phần diện tích 1.667,9m² giữa ông B, bà K với ông Đ, bà D, ông L, bà A, ông H2, Hội đồng xét xử thấy:
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2015 chỉ có thông tin và chữ ký của bên chuyển nhượng mà không có thông tin, chữ ký bên nhận chuyển nhượng. Căn cứ các bản tự khai của bà Phạm Thị Lan A, ông Nguyễn Đức L, thể hiện: Việc thỏa thuận giao kết hợp đồng được tiến hành giữa bà Lan A, ông L, anh H2 và bố con ông B1, ông T1 mà không có ông Đ, bà D. Như vậy, ông Đ, bà D không phải là chủ thể giao kết hợp đồng năm 2015. Lẽ ra, Tòa án cấp sơ thẩm phải xác minh, làm rõ: bà Phạm Thị Lan A, ông Nguyễn Đức L, ông Tạ Duy H2 có ủy quyền cho ông Đ, bà D khởi kiện về việc thực hiện Hợp đồng này hay không? Nếu có ủy quyền thì cần phải xác định lại tư các tham gia tố tụng của bà Lan A, ông L, ông H2. Nếu không ủy quyền thì không thụ lý yêu cầu khởi kiện này của ông Đ, bà D.
Mặt khác, Tòa án cấp sơ thẩm đã phân tích về hình thức, nội dung, quá trình thực hiện Hợp đồng và nhận định : “không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Đ, bà D, ông H2, ông L, bà Lan A về yêu cầu công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2015 đối với phần diện tích 1.667,9m² giữa ông B, bà K với ông Đ, bà D, ông L, bà A, ông H2” là có căn cứ. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm lại xác định Hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, theo đó buộc ông B1, bà K, anh T1 phải trả cho nguyên đơn 310.000.000 đồng là vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vi phạm quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần phải hủy các quyết định của Bản án sơ thẩm liên quan đến nội dung này để giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm quyền lợi của các bên đương sự.
[2.4] Tại phần quyết định của Bản án sơ thẩm đã tuyên giao cho anh T1 sử dụng thửa đất số 27, diện tích 9m². Tuy nhiên, theo Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ: Chỉ có 26 thửa đất được đánh số từ 1 đến 26, không có thửa đất số 27 và cũng không có thửa đất nào có diện tích 9m². Việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên như trên là không thể thi hành án được. Ngoài ra, tại phần quyết định của Bản án sơ thẩm có nhiều nhầm lẫn, sai sót về diện tích các thửa đất cần rút kinh nghiệm, cụ thể: Tại mục 1.1: xác định diện tích đất thửa số 2 là 297,8m² trong khi theo Sơ đồ thẩm định thửa số 2 có diện tích 307,8m², xác định thửa số 6 có diện tích 151,7m² trong khi theo Sơ đồ thẩm định thửa số 6 có diện tích 160,7m²; tại mục 1.2: xác định thửa số 4 có diện tích 29,1m² trong khi theo Sơ đồ thẩm định thửa số 6 có diện tích 19,1m².
[2.5] Tổng hợp các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy: Bản án sơ thẩm đã xác định không đúng tư cách tham gia tố tụng của đương sự; không giải quyết hết yêu cầu khởi kiện và giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của đương sự là vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; tuyên án có nội dung không thể thi hành; việc thu thập chứng cứ chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được. Do đó, có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng VKSND tỉnh Yên Bái, kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nông Văn T1: Hủy một phần Bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo trình tự sơ thẩm đối với toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, các yêu cầu phản tố của bị đơn và một phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nông Văn T1 về việc đề nghị: Tuyên bố vô hiệu đối với giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích đất 915,4 m² do ông Tạ Duy H2 tự ý xác lập cho vợ chồng ông Hoàng Minh Đ ngày 09/02/2017; hủy GCNQSDĐ số CO 141281, số vào sổ CH 00727 do UBND huyện Y cấp cho ông Hoàng Minh Đ, bà Trần Thị Hồng D đối với diện tích 915,4 m² thuộc thửa số 1, tờ bản đồ 47 tại thôn K, xã T, huyện Y.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội là phù hợp nên được chấp nhận.
[3] Về án phí: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Nghĩa vụ chịu án phí được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 3 Điều 308; khoản 1, khoản 2 Điều 310; khoản 3 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
QUYẾT ĐỊNH:
- Hủy một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm đối với: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Yêu cầu phản tố của bị đơn và một phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nông Văn T1 về việc đề nghị: Tuyên bố vô hiệu đối với giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích đất 915,4 m² do ông Tạ Duy H2 tự ý xác lập cho vợ chồng ông Hoàng Minh Đ ngày 09/02/2017; hủy GCNQSDĐ số CO 141281, số vào sổ CH 00727 do UBND huyện Y cấp cho ông Hoàng Minh Đ, bà Trần Thị Hồng D đối với diện tích 915,4 m² thuộc thửa số 1, tờ bản đồ 47 tại thôn K, xã T, huyện Y.
- Về án phí: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Nghĩa vụ chịu án phí được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Xuân Thảo |
|
CÁC THẨM PHÁN Nguyễn Hải Thanh Nguyễn Ngọc H3 |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Xuân T6 |
Bản án số 286/2025/DS- PT ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai; bồi thường thiệt hại và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 286/2025/DS- PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai; bồi thường thiệt hại và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Ông Hoàng Minh Đ - Bị đơn: Ông Nông Văn B, bà Hà Thị K về " Tranh chấp đất đai"
