|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số 286/2025/HS-PT Ngày 15/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Nam;
Các Thẩm phán: Ông Ngô Tự Học;
Ông Nguyễn Mạnh Tiến.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đào Thanh Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Hà Duy Thảo, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2025/TLPT-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2024/HS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.
Bị cáo có kháng cáo: Nông Văn T, sinh ngày 13 tháng 8 năm 1988 tại huyện B, tỉnh Lào Cai; Nơi thường trú: Tổ A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nơi ở hiện nay: Thôn V, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; Dân tộc: Giáy; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Không xác định; Mẹ đẻ Lê Thị S; Bố dượng Nông Văn M; Bị cáo có vợ là Lục Hồng B; Bị cáo có 02 con riêng, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tháng 6/2021, bị cáo bị Công an thị trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo vì có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; Tháng 9/2021, bị Ủy ban nhân dân thị trấn B, tỉnh Lào Cai áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn B trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày 10/9/2021 do thường xuyên vi phạm quy định về trật tự công cộng.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/02/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt.
Bị hại: Chị Lục Hồng B, sinh ngày 22/01/1980; ĐKHKTT: Thôn N, xã T, huyện M, tỉnh Lào Cai. Nơi ở hiện nay: Thôn H, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 3 năm 2023, Nông Văn T có nhặt được một khẩu súng tự chế (loại súng kíp) có tổng chiều dài 1,43 mét, nòng súng bằng kim loại hình trụ tròn dài 1,27 mét, đường kính nòng súng 1,2 cm, báng súng bằng gỗ dài 88cm gần lán ở của gia đình. T đã sử dụng súng để bắn vài lần và cất giấu súng tại khu vực gác bếp của lán. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 11/02/2024, sau khi đi uống rượu tại lán của ông Lò A C, Nông Văn T về lán ở của mình và lên giường nằm cùng vợ là Lục Hồng B. Sau đó, B và T cãi nhau, T dùng chân đạp vào bụng, đùi của B, B bực tức đứng dậy lấy túi treo ở vách tường rồi quay lại tìm quần áo để bỏ đi thì T tiếp tục chửi B và đứng dậy xuống khỏi giường túm tóc B giật ngửa về phía sau gần đầu giường. Sau đó T đi ra gian bếp cầm chiếc ấm đun nước ném về phía B thì Bình tránh được. T tiếp tục cầm ghế bằng gỗ ném về phía B nhưng trúng vào đầu giường làm nghế rơi xuống nền đất. B đi ra cửa chính để ra ngoài thì cửa buộc chặt, không đi được nên quay lại để đi ra cửa bếp thì cùng lúc này T quay ra vách bếp lấy khẩu súng kíp, cầm súng bằng hai tay quay lại cách B khoảng 1,5 mét, tay trái T cầm vào thân súng, tay phải kéo cò của súng rồi nắm vào báng súng, đồng thời đặt ngón tay trỏ phải vào phần cò súng, giơ súng lên, đầu súng cách nền đất khoảng 1,39 mét, đầu nòng súng cách miệng của B 04 cm chếch về phía mép phải của B và bóp cò làm súng nổ trúng vào vùng hàm, mặt của B. Trinh thấy B chảy nhiều máu nên gọi điện thoại nhờ mẹ đẻ là bà Lê Thị S đưa B đi viện cấp cứu, bà S hỏi T “B bị làm sao tai nạn hay bị ngã” thì T không nói gì. T tiếp tục gọi điện thoại nhờ ông L A C xuống giúp đưa B đi cấp cứu, T nói với ông C là “B bị súng bắn vào mồm”. Sau đó, T cõng B đi cấp cứu cách lán khoảng 50 mét, thì ông C đi đến, T để B ngồi xuống đường nhờ ông C trông B và quay về lấy xe máy, lúc này ông C hỏi B là bị làm sao? B nói “bị T dùng súng kíp bắn vào mồm, chú đừng nói cho ai biết cháu sợ chồng cháu đi từ” thì lúc này T đi xe mô tô đến và đưa B đi bệnh viện cấp cứu điều trị. Đến ngày 12/02/2024, Nông Văn T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đầu thú và khai nhận tối ngày 11/02/2024 dùng súng tự chế bắn bị hại Lục Hồng B. Đến ngày 07/3/2024, bị cáo thay đổi lời khai, không thừa nhận hành vi phạm tội của mình và khai Lục Hồng B đã tự sát bằng khẩu súng kíp nêu trên.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 68/KLTTCT-TTPY ngày 29/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh L đối với Lục Hồng B, kết luận:
- Các kết quả chính: Nhiều dị vật dưới kết mạc nhãn cầu mắt phải. Thị lực mắt phải 2/10; Vỡ xoang hàm bên phải; Vỡ xương hàm trên bên phải không ảnh hưởng chức năng; 06 dị vật kim khí tại phần mềm vùng má phải, trong xoang sàng phải, xoang bướm trái, phần mềm thành sau vòm họng; mất răng R1.1; R1.3; R1.4; R1.7; R2.1; Sẹo loét tỳ đè vùng đỉnh phải kích thước 03 x 04 cm; Sẹo môi trên bên phải kích thước 1,5 x 0,3 cm; Sẹo môi trên bên trái kích thước 01 x 0,3 cm.
- Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lục Hồng B tại thời điểm giám định là 53%. Cơ chế hình thành vết thương: Chấn thương trực tiếp. Vật gây thương tích: Hỏa khí.
Ngày 15/7/2024, bị hại Lục Hồng B có đơn từ chối giám định và không đồng ý phẫu thuật gắp đạn để xác định loại đạn bị cáo sử dụng bắn bị hại Lục Hồng B.
Cáo trạng số 24/CT-VKST-P2 ngày 29/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Nông Văn Trinh về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2024/HS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai đã quyết định:
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; khoản 2 Điều 51; Điều 15, Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội “Giết người”
Xử phạt bị cáo Nông Văn T 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo ngày 12/02/2024.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm quyết định về vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 30/11/2024, bị cáo Nông Văn T kháng cáo kêu oan.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nông Văn T từ chối người bào chữa, giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm, các Thẩm phán thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa và thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Ngày 30/11/2024, bị cáo Nông Văn T kháng cáo bản án sơ thẩm là trong thời hạn luật định, nên đề nghị Tòa án chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm
Về nội dung: Kháng cáo kêu oan của bị cáo T là không có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/8/2024, bị cáo Nông Văn T kháng cáo là trong thời hạn luật định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét, giải quyết yêu cầu kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo kêu oan của bị cáo Nông Văn T thì thấy:
[2.1] Ngày 12/02/2024, bị cáo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đầu thú và khai nhận tối ngày 11/02/2024 dùng súng tự chế bắn bị hại Lục Hồng B. Đến ngày 07/3/2024, bị cáo thay đổi lời khai, không thừa nhận hành vi phạm tội của mình và khai Lục Hồng B đã tự sát bằng khẩu súng kíp nêu trên, giữa bị cáo và bị hại không xảy ra cãi vã, xô xát, bị cáo không phạm tội “Giết người”, các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là do bị cáo bị điều tra viên đánh, ép bị cáo phải khai nhận; nhưng tại phiên tòa, bị cáo không đưa ra được tài liệu nào làm căn cứ chứng minh bị cáo bị ép cung, quá trình lấy lời khai của bị cáo do nhiều điều tra viên, kiểm sát viên thực hiện với sự tham gia của người bào chữa cho bị cáo, sau khi lấy lời khai cơ quan điều tra đều đọc lại cho bị cáo nghe, bị cáo đều tự viết nội dung xác nhận đã ghi đúng lời khai của bị cáo, bị cáo tự nguyện ký vào các biên bản, quá trình lấy lời khai các điều tra viên đều thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trên cơ sở lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, lời khai của những người làm chứng, biên bản hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Ngày 11/02/2024, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong lúc cãi nhau với vợ là chị Lục Hồng B, bị cáo Nông Văn T đã dùng vũ khí là khẩu súng kíp tự chế bắn vào vùng hàm, mặt là vùng trọng yếu trên cơ thể của chị B gây tổn hại 53% sức khỏe. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Giết người”, theo quy định tại Điều 123 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan.
[2.2] Xét bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt, bị cáo đã dùng súng bắn vào vùng trọng yếu của cơ thể bị hại nên hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất côn đồ quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự; sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có gọi điện nhờ mọi người giúp đỡ và trực tiếp đưa người bị hại đi cấp cứu kịp thời, và đã ra đầu thú là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, thể hiện sự coi thường pháp luật. Bị cáo đã 02 lần bị xử lý hành chính nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân để tự rèn luyện, tu dưỡng mà vẫn cố phạm tội; tại phiên tòa lại quanh co chối tội, không nhận thức được lỗi lầm của mình đã gây ra và có ý thức sửa chữa, nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Nông Văn T 14 năm tù là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.
[2.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kêu oan nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh cho việc kháng cáo kêu oan của bị cáo là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm không phát sinh tình tiết mới, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nông Văn T, cần giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm. Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội về việc xác định bị cáo phạm tội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nông Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
-
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nông Văn T; Giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2024/HS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, cụ thể như sau:
- - Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn T phạm tội “Giết người”
- - Về hình phạt: Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; khoản 2 Điều 51; Điều 15, Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nông Văn T 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo ngày 12/02/2024.
- Về án phí: Bị cáo Nông Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Phan Nam |
Bản án số 286/2025/HS-PT ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về vụ án hình sự phúc thẩm về tội giết người
- Số bản án: 286/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Giết người
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: kc
