TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 286/2024/DS-ST Ngày: 06/9/2024 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Trần Ngọc Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Quí Phượng;
- Bà Nguyễn Thị Như Sương.
Thư ký phiên tòa: Bà Lương Diệu Thu.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 11 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 77/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2024/QĐXXST-DS ngày 19/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 108/2024/ QÐST-DS ngày 13/8/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín; địa chỉ: Số 266-268 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Đức Huy, sinh năm 1989; địa chỉ: Số 258-260 đường Lê Văn Sỹ, Phường 14, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền số 56/2024/UQ-LVS ngày 26/3/2024);
Bị đơn: Ông Lâm Minh S, sinh năm 1993; địa chỉ: Số F1 đường L, Phường N, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh;
Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện được nộp vào ngày 26/3/2024 của nguyên đơn và quá trình giải quyết vụ án ông Lê Đức Huy là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 18/8/2020, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (gọi tắt là Ngân hàng) và ông Lâm Minh S ký kết Hợp đồng sử dụng hai thẻ tín dụng Sacombank Visa Classic và Family sử dụng chung hạn mức 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2,766%/tháng. Do ông Lâm Minh S vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 05/11/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm 22/11/2023 là 23.054.037 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn. Tính đến ngày 22/4/2024 ông Lâm Minh S còn nợ số tiền là 27.881.836 (hai mươi bảy triệu tám trăm tám mươi mốt nghìn tám trăm ba mươi sáu) đồng, trong đó: nợ gốc là 23.054.037 đồng và lãi quá hạn là 4.827.799 đồng.
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp và tạo điều kiện về mặt thời gian nhưng ông Lâm Minh S vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.
Nay, Ngân hàng yêu cầu ông Lâm Minh S thanh toán số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 22/4/2024 ông Lâm Minh S còn nợ số tiền là 27.881.836 (hai mươi bảy triệu tám trăm tám mươi mốt nghìn tám trăm ba mươi sáu) đồng, trong đó: nợ gốc là 23.054.037 đồng và lãi quá hạn là 4.827.799 đồng, thanh toán một lần ngay sau khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 23/4/2024, ông Lâm Minh S còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận tại các hợp đồng đã ký cho đến khi ông Lâm Minh S trả dứt khoản tiền còn nợ cho Ngân hàng.
2. Bị đơn: Ông Lâm Minh S:
Theo kết quả xác minh của Công an Phường N, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh: “Ông Lâm Minh S, SN 1993 có đăng ký thường trú và thực tế cư trú tại địa chỉ: F1 đường L, Phường N, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh”.
Tòa án nhân dân Quận 11 đã thực hiện thủ tục triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn không đến Tòa án và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai đối với bị đơn và không thể tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải các bên.
Tòa án nhân dân Quận 11 quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
3. Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có văn bản thông báo trong quá trình Tòa án tiến hành thủ tục đưa vụ án ra xét xử, ngày 04/7/2024 ông Lâm Minh S thanh toán số tiền 3.620.000 đồng và ngày 07/8/2024 thanh toán số tiền 4.620.000 đồng, được ngân hàng đồng ý trừ vào tiền nợ gốc. Tính đến ngày 06/9/2024 ông Lâm Minh S còn nợ số tiền là 22.363.761 (hai mươi hai triệu ba trăm sáu mươi ba nghìn bảy trăm sáu mươi mốt) đồng, trong đó: nợ gốc là 14.247.428 (mười bốn triệu hai trăm bốn mươi bảy ngàn bốn trăm hai mươi tám) đồng và lãi quá hạn là 8.116.333 (tám triệu một trăm mười sáu ngàn ba trăm ba mươi ba) đồng. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt.
Bị đơn: Ông Lâm Minh S đã được Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, không có lý do.
4. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
a) Trong quá trình giải quyết vụ kiện và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ các quy định của pháp luật; nguyên đơn, bị đơn chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Tòa án chưa đảm bảo thời hạn tống đạt thông báo thụ lý.
b) Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền khoản thẻ tín dụng tạm tính đến ngày 06/9/2024, nợ gốc là 14.247.428 đồng, tiền lãi quá hạn là 8.116.333 đồng. Tổng cộng: 22.363.761 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng cho đến khi trả hết nợ.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền nguyên đơn được chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín khởi kiện yêu cầu ông Lâm Minh S trả số tiền nợ vay, đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng vay tài sản. Bị đơn ông Lâm Minh S có hộ khẩu thường trú và thực tế cư trú tại Quận 11. Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt.
Bị đơn: Ông Lâm Minh S vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn.
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[3] Về yêu cầu của nguyên đơn:
3.1 Đối với yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc tính đến ngày 06/9/2024 là 14.247.428 (mười bốn triệu hai trăm bốn mươi bảy ngàn bốn trăm hai mươi tám) đồng:
Căn cứ Giấy Đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/8/2020 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín với ông Lâm Minh S, theo đó việc thực hiện giao dịch trên là do các bên hoàn toàn tự nguyện và phù hợp pháp luật. Do đó, phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Tại bảng Tóm tắt sao kê của thẻ tín dụng số 472074-1173 và 970403-6315, thể hiện ông Lâm Minh S vi phạm nghĩa vụ thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng nên ngày 22/11/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Căn cứ vào Điều 23 Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín quy định: “Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của Chủ thẻ cho đến kỳ phát hành Thông báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo Hợp đồng. Trong trường hợp này, toàn bộ tống Dư nợ sẽ trở nên đến hạn ngay lập tức và chủ thẻ phải thanh toán,... Chấm dứt quyền sử dụng thẻ và tiến hành việc thu hồi toàn bộ nợ; áp dụng lãi suất quá hạn,...”.
Căn cứ Điều 95 Luật tổ chức tín dụng quy định:
“1. Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng...”.
Hội đồng xét xử xét thấy ông Lâm Minh S đã sử dụng thẻ Tín dụng vay tiền của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín và đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc tính đến 06/9/2024 là 14.247.428 (mười bốn triệu hai trăm bốn mươi bảy ngàn bốn trăm hai mươi tám) đồng là có căn cứ, cần chấp nhận.
3.2 Đối với yêu cầu bị đơn thanh toán khoản tiền lãi quá hạn tính đến ngày 06/9/2024 là 8.116.333 (tám triệu một trăm mười sáu ngàn ba trăm ba mươi ba) đồng:
Căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” và căn cứ vào Điểm c Khoản 4 Điều 13 và Điều 20 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng thì: “Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn”.
Hội đồng xét xử xét thấy ông Lâm Minh S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán khoản tiền lãi quá hạn tính đến ngày 06/9/2024 là 8.116.333 (tám triệu một trăm mười sáu ngàn ba trăm ba mươi ba) đồng và thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 07/9/2024 trên số tiền nợ gốc còn lại cho đến khi bị đơn trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng đã ký là có căn cứ, cần chấp nhận.
Từ những nhận định trên, xét yêu cầu của nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 là có cơ sở và phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín không phải chịu án phí và được hoàn trả tiền tạm ứng án phí.
Ông Lâm Minh S phải chịu án phí trên số tiền phải thanh toán cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 40, Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Điều 244, 271, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 317, 318, 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ vào Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín.
2. Buộc ông Lâm Minh S có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín số tiền còn nợ tính đến ngày 06/9/2024 là 22.363.761 đồng (hai mươi hai triệu ba trăm sáu mươi ba nghìn bảy trăm sáu mươi mốt) đồng, trong đó: nợ gốc là 14.247.428 (mười bốn triệu hai trăm bốn mươi bảy ngàn bốn trăm hai mươi tám) đồng và lãi quá hạn là 8.116.333 (tám triệu một trăm mười sáu ngàn ba trăm ba mươi ba) đồng. Trả một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ông Lâm Minh S có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc còn thiếu theo lãi suất đã thỏa thuận tại Giấy Đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 02/7/2018 tính từ ngày 07/9/2024 cho đến khi ông Lâm Minh S thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ đối với Ngân hàng.
3. Các quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự được thực hiện tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lâm Minh S phải chịu án phí là 1.118.188 (một triệu một trăm mười tám ngàn một trăm tám mươi tám) đồng.
Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 648.486 (sáu trăm bốn mươi tám ngàn bốn trăm tám mươi sáu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23P số 0022860 ngày 10/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Trần Ngọc Phương |
Bản án số 286/2024/DS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 286/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp vay tài sản
