|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 286/2024/HS-ST Ngày: 20/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Vương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Phước
2. Bà Huỳnh Thị Thanh Thảo
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Trí – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 263/2024/HSST ngày 22/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 308/2024/QĐXXST-HS ngày 05/6/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Cao Minh T; tên gọi khác: Không; sinh năm 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: 39/44/8 Đường A, khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh Q, sinh năm 1968 và bà Cao Thanh Đ, sinh năm 1967; bị cáo là con cả trong gia đình có hai anh em; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/9/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T.
(Có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 12/5/2023, Tổ công tác gồm Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an thành phố T phối hợp với Công an phường P kiểm tra hành chính quán cà phê “Trắng” địa chỉ: A Đường A, Khu phố D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Phạm Hùng Q1, Nguyễn Cao Minh T có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra.
Qua kiểm tra, phát hiện Q1 cất giữ trong túi quần phía trước bên phải đang mặc một gói nylon chứa thảo mộc khô. Q1 khai nhận là ma túy “Cỏ mỹ” vừa mua của Nguyễn Cao Minh T với giá 100.000 đồng để sử dụng.
Nguyễn Cao Minh T tự nguyện giao nộp 01 túi giấy màu trắng in dòng chữ “MINHTUAN MOBILE.COM” bên trong túi đựng 01 hộp kim loại hình tròn dán tem màu vàng ghi chữ L'OREAL chứa thảo mộc khô; 01 túi nylon màu xanh bên trong túi nylon chứa: 16 gói ghi chữ WUKING bên trong có chứa thảo mộc khô, 26 gói nylon trong suốt bên trong chứa thảo mộc khô, đồng thời khai nhận tại nhà T còn cất giữ một số lượng thảo mộc khô nữa, toàn bộ số thảo mộc khô là cỏ mỹ mua lại trên mạng đem về chia nhỏ để bán kiếm lời.
Khoảng 12 giờ 00 phút, trong lúc Tổ công tác đang kiểm tra quán, Hồ Đình L đến quán cà phê tìm Nguyễn Cao Minh T để mua ma túy “Cỏ Mỹ” tuy nhiên chưa mua được thì bị Tổ kiểm tra tiến hành kiểm tra. Sau đó, đến khoảng 12 giờ 30 phút tiếp tục có Võ Quốc T1, là tài xế xe ôm chạy ứng dụng B, đến quán để tìm Nguyễn Cao Minh T. Do có biểu hiện nghi vấn, Tổ kiểm tra tiến hành kiểm tra phát hiện trong túi quần bên phải phía trước của T1 có 01 gói nylon ghi chữ WUKING. T1 khai nhận là bên trong gói nylon là “Cỏ mèo”, T1 được T thuê đi giao cho người khác nhưng không giao được nên T1 đem về trả lại cho T.
Tổ công tác đã lập biên bản, đưa người cùng vật chứng về Công an phường P để làm việc. (Bút lục: 60)
Tiếp tục khám xét tại nhà T, Tổ công tác thu giữ: (Bút lục: 64 – 65)
- Trong hộc phía trên của kệ tivi tại tầng 1: 01 hộp kim loại bên trong có chứa thảo mộc khô; 08 gói nylon có chữ WUKING bên trong chứa thảo mộc khô; 01 bịch nylon chứa 100 gói nylon dạng zip bên trong chứa thảo mộc khô;
- Trong hộc phía dưới của kệ tivi tại tầng 1: 01 gói nylon màu bạc bên trong có chứa thảo mộc khô; 01 gói nylon màu đen đựng một gói nylon màu vàng bên trong chứa thảo mộc khô; 01 gói nylon dạng zip bên trong chứa thảo mộc khô;
- Trên bàn làm việc tại tầng 1: 01 cái cân loại 5kg màu xanh lá cây.
- Trên nền nhà tầng 1, trong góc tường: 01 hộp giấy chứa các gói nylon có chữ Wuking (30 gói).
Kết luận giám định số 3325/KL-KTHS ngày 23 tháng 5 năm 2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận 01 phong bì niêm phong có chữ ký ghi tên Phạm Hùng Q1 trong có 01 gói nylon in chữ Wuking chứa thảo mộc khô là ma túy khối lượng 4,0626 gram loại MDMB-4en-PINACA, mẫu vật đã sử dụng hết cho công tác giám định. (Bút lục: 78)
Kết luận giám định số 3323/KL-KTHS ngày 23 tháng 5 năm 2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận 03 hộp carton ký hiệu 01, 02, 04 và 01 bì thư ký hiệu 03 được niêm phong chữ ký ghi tên Nguyễn Cao Minh T bên trong có chứa: (Bút lục: 75 – 76)
- Thảo mộc khô trong 16 gói được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại MDMB-4en-PINACA, tổng khối lượng 87,74 gram. (thu tại nơi phát hiện tội phạm);
- Thảo mộc khô trong 26 gói được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại MDMB-4en-PINACA, tổng khối lượng 22,98 gram. (thu tại nơi phát hiện tội phạm);
- Thảo mộc khô trong 01 hộp niêm phong gửi giám định là ma túy MDMB-4en-PINACA, tổng khối lượng 1,95 gram. (thu tại nơi phát hiện tội phạm);
- Thảo mộc khô trong 08 gói được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại MDMB-4en-PINACA, tổng khối lượng 44,74 gram. (thu tại nhà đối tượng);
- Thảo mộc khô trong 01 gói được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại MDMB-4en-PINACA, tổng khối lượng 8,71 gram. (thu tại nhà đối tượng)
- Thảo mộc khô trong 01 gói được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại MDMB-4en-PINACA, tổng khối lượng 445,65 giảm. (thu tại nhà đối tượng);
- Thảo mộc khô trong 01 gói được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại MDMB-4en-PINACA, tổng khối lượng 99,09 gram. (thu tại nhà đối tượng);
- Thảo mộc khô trong 01 gói được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại MDMB-4en-PINACA, tổng khối lượng khối lượng 0,21 gram (thu tại nhà đối tượng).
Tổng khối lượng mẫu còn lại sau giám định là 603,09 gram.
Kết luận giám định số 3324/KL-KTHS ngày 23 tháng 5 năm 2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận Thảo mộc khô đựng trong 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Võ Quốc T1, bên trong có 01 gói nylon in chữ "WUNKING" gửi giám định là ma túy, loại MDMB-4en-PINACA, tổng khối lượng khối lượng 3,74 gram. M đã sử dụng hết cho công tác giám định. (Bút lục: 77)
Tổng khối lượng ma túy túy thu giữ của Nguyễn Cao Minh T là 718,8726 gram thảo mộc khô có chứa chất ma túy MDMB-4en-PINACA.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra bị can Nguyễn Cao Minh T và các đối tượng khai nhận:
Nguyễn Cao Minh T khai nhận: Đầu năm 2022, T nảy sinh ý định mua Ma túy “Cỏ mỹ” về để bán kiếm chênh lệch. T lên mạng xã hội thấy có tài khoản tên Kristen N có đăng giá cả và cách thức bán lại cỏ mỹ. T gọi điện theo số điện thoại của tài khoản trên (không nhỡ rõ) thì thấy có 01 người nam trả lời về cách mua bán cỏ mỹ. Nếu T mua để bán thì người này bán cho T 800.000 đồng một lạng nhưng phải lấy từ một lạng trở lên. Ngày 02/9/2022, T đặt mua 01 lạng và hẹn người này giao cỏ mỹ tại số A Đại lộ C, phường P. Buổi trưa cùng ngày, có 01 người mặc áo grab food đến đưa cho T 01 lạng cỏ mỹ được phân vào các túi nhỏ sẵn, T bán cho bạn bè quen biết với giá 50.000 đồng/ gói, được 02 tuần thì hết. Sau này cứ khoảng 02 tuần đến 01 tháng thì T lấy ít nhất 01 lạng, nhiều nhất là 01 kg. T sử dụng Facebook và Z Thầy Đồ để bán và để số điện thoại 0909.869.xxx để giao dịch ma túy cỏ mỹ. Người mua sẽ liên lạc với T hẹn ra quán C để lấy ma túy. Lần cuối cùng T mua ma túy của Kristen N là khoảng 02 tuần trước khi bị kiểm tra, khối lượng 01 kg với giá 4.000.000 đồng. Sau khi mua, T phân nhỏ ra bán các gói giá giao động từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng tùy theo trọng lượng. Cách thời điểm bị kiểm tra khoảng 01 tháng, T đặt đồ ăn trên mạng thì thấy T1 giao đồ ăn đến. T1 có nói với T là T1 ở gần chỗ T, có gì cần giao thì gọi cho T1. Sau đó, T có nhờ T1 đi giao ma túy Cỏ mỹ, nhưng T nhắn cho T1 (tài khoản zalo “anh Tường S”) là “Có ai hỏi thì nói là cỏ mèo, không có chất cấm, đừng sợ nha anh” và nói với T1 đây là “Cỏ mèo”, còn T1 biết đây là ma túy hay không thì T không biết. Trong suy nghĩ của T thì T1 biết đây là ma túy, mỗi lần đi giao ma túy T cho tường 50.000 đến 100.000 đồng tiền công, T nhớ nhờ T1 đi giao được khoảng 10 lần. Khoảng 09 giờ ngày 12/5/2023, T gọi điện cho T1, nói T1 đi giao 02 gói cỏ mèo cho khách 01 gói ở khu Công nghệ cao và 01 gói ở chung cư C, T1 đã giao được 01 gói ở chung cư C, còn 01 gói không giao được nên đem về. Cùng thời điểm này, T nhận được điện thoại của Q1, L bảo bán cho 01 gói ma túy cỏ mỹ giá 100.000 đồng, T hẹn 02 đối tượng trên ra quán cà phê T2 lấy ma túy, giao tiền. Khi vừa bán ma túy xong cho Q1 thì bị bắt giữ. Từ khi bắt đầu bán ma túy đến khi bị Công an phát hiện, T bán được khoảng 3kg cỏ mỹ, mỗi kilogam T thu lợi khoảng 4.000.000 đồng. (Bút lục: 43 – 53).
- Võ Quốc T1 khai nhận nội dung sự việc như trên, T1 không biết hàng T nhờ giao là ma túy, T1 chưa từng sử dụng ma túy (Bút lục: 138 – 146).
- Phạm Hùng Q1 khai nhận: Q1 liên hệ với T để mua ma túy qua tài khoản Facbook tên “Hung Quang”, Q1 đã mua ma túy của T được 03 lần, lần đầu tiên mua cách thời điểm bị Công an phát hiện khoảng 01 tháng với giá 50.000 đồng. Lần gần nhất, Q1 mua ma túy của T vào ngày 12/5/2023 tại quán C thì bị phát hiện. (Bút lục: 159 – 163)
- Hồ Đình L khai nhận: L dùng tài khoản mạng xã hội Facebook “Đình Luyện” để liên lạc mua ma túy của T. L đã mua ma túy của T 01 lần vào ngày 11/5/2023. Ngày 12/5/2023, L liên lạc với T để mua ma túy, nhưng chưa mua được thì bị Công an mời về làm việc. (Bút lục: 112-114)
Lời khai của Phạm Hùng Q1 và Hồ Đình L phù hợp với lời khai của Nguyễn Cao Minh T về số lần, số tiền và thời gian, địa điểm giao nhận ma túy.
* Vật chứng vụ án:
- 03 gói niêm phong có ghi số vụ 3323/C09B, bên ngoài có chữ ký ghi tên người niêm phong Nguyễn Thị Phương M1, người chứng kiến Nguyễn Thị Thi H và hình dấu Công an phường P, thành phố T. Bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định.
- 01 điện thoại Iphone thu giữ của Nguyễn Cao Minh T.
- 01 tờ tiền N1 mệnh giá 100.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 270/CT-VKSTPTĐ ngày 20/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng đã nêu. bị cáo đồng ý với kết luận giám định, đồng ý với các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng và không khiếu nại hay có ý kiến gì khác
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội và tranh luận:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về hành vi, tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Cao Minh T từ 7 (bảy) năm đến 7 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Truy thu số tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo T.
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo T không bào chữa, tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội làm công dân tốt cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trong quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận:
Đây là vụ án “Mua bán trái phép chất ma túy” do Nguyễn Cao Minh T thực hiện hành vi phạm tội phát hiện lúc 11 giờ 20 phút ngày 12/5/2023 tại quán cà phê “Trắng” địa chỉ: A Đường A, Khu phố D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyễn Cao Minh T có hành vi tàng trữ trái phép thảo mộc khô có chứa chất ma túy loại MDMB-4en-PINACA có tổng khối lượng 718,8726 gram, mục đích mua để bán kiếm lời, bị Công an thành phố T kiểm tra lập biên bản về hành vi bán ma túy, đưa người cùng vật chứng về trụ sở làm việc. Trước khi bị phát hiện T đã bán ma túy cho Phạm Hùng Q1 03 lần, Hồ Đình L 01 lần. Hành vi của Nguyễn Cao Minh T đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Do đó, cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Đối với Phạm Hùng Q1 có hành vi tàng trữ trái phép 4,0626 gram thảo mộc khô có chứa chất ma túy loại MDMB-4en-PINACA, Q1 chưa có tiền án, tiền sự, khối lượng ma túy thu giữ chưa đủ định lượng để xử lý hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm d khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ của Q1 về Công an phường nơi Q1 cư trú để xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với Võ Quốc T1 giao ma túy cho khách hàng của T, T1 không biết hàng T nhờ đi giao là ma túy, do T1 chưa từng sử dụng ma túy và được T nói là đi giao “Cỏ mèo”, “Không phải là chất cấm, đừng sợ nha anh”. Cơ quan điều tra đã rà soát khách hàng T1 giao ma túy tại C, A nhưng chưa phát hiện. Do đó, không có căn cứ để xử lý hình sự đối với T1.
Đối với người bán ma túy cho T có tài khoản zalo tên Kristen N, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã gửi xác minh tài khoản zalo Kristen Nguyen tại Công ty V1, tuy nhiên chưa có kết quả. Cơ quan điều tra đang tiếp tục làm rõ người bán ma túy cho T, sau khi có kết quả sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết định khung tăng nặng hình phạt:
Xét lời khai của bị cáo T là phù hợp với lời khai của Phạm Hùng Q1 và Hồ Đình L về số lần, số tiền, thời gian và địa điểm giao nhận ma túy nên có căn cứ xác định bị cáo T đã thực hiện hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên, do đó bị cáo bị xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo:
- Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[5] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo:
Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo T đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là rất nghiêm trọng. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, tàng trữ các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, làm tiền đề phát sinh nhiều tội phạm, tệ nạn xấu trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Các nội dung khác:
[6.1] Về xử lý vật chứng:
- Đối với: 03 gói niêm phong có ghi số vụ 3323/C09B, bên ngoài có chữ ký ghi tên người niêm phong Nguyễn Thị Phương M1, người chứng kiến Nguyễn Thị Thu H1, hình dấu Công an phường P, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định. Đây là vật nhà nước cấm lưu hành và bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với: 01 điện thoại Iphone thu giữ của Nguyễn Cao Minh T. Xét T dùng điện thoại này để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu, sung quỹ nhà nước.
- Đối với 01 tờ tiền N1 mệnh giá 100.000 đồng thu giữ là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[6.2] Truy thu số tiền thu lợi bất chính: Theo khai nhận của bị cáo thì từ trước đến nay bị cáo bán được khoảng 3 kg cỏ mỹ, thu lợi 4.000.000 đồng/kg. Do đó cần truy thu số tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo T là 12.000.000 đồng.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Luật Thi hành án Hình sự.
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Cao Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao Minh T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 28/9/2023.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy đối với 03 gói niêm phong có ghi số vụ 3323/C09B, bên ngoài có chữ ký ghi tên người niêm phong Nguyễn Thị Phương M1, người chứng kiến Nguyễn Thị Thu H1, hình dấu Công an phường P, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định có mã số GNPDTNK24/323C
- Tịch thu, sung quỹ nhà nước đối với 01 điện thoại Iphone thu giữ của Nguyễn Cao Minh T có mã số DTNK24/323C.
- (Theo Phiếu nhập kho số NK24/323C ngày 19/6/2024).
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với 01 tờ tiền N1 mệnh giá 100.000 đồng thu giữ của Nguyễn Cao Minh T.
- (Theo Giấy nộp tiền mặt ghi nhận nội dung “CA TP. THU DUC – NGUYEN XUAN NAM NOP TIEN TANG VAT NGUYEN CAO MINH TUAN MUA BAN TRAI PHEP CHAT MA TUY 12/5/2023 TẠI P. PHUOC BINH TP THU DUC”)
4. Truy thu số tiền 12.000.000 (mười hai triệu) đồng
là tiền thu lợi bất chính bị cáo T có được do hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
5. Về án phí:
Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo:
bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Vương |
Bản án số 286/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 286/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 7n6t
