|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 286/2024/HSST Ngày: 11/6/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Danh
Bà Huỳnh Thị Kim Kiên
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Thìn – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Hội trường số 4 trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa và điểm cầu thành phần – Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 282/2024/HSST ngày 15/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 275/2024/QĐXXST-HS ngày 17/5/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Thị T
Tên gọi khác: Không - Giới tính: Nữ.
Sinh năm 1994, tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Tổ F, khu phố D, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Công nhân - Trình độ học vấn: Lớp 12/12.
Họ tên cha: Đặng Văn T1 - Sinh năm 1964
Họ tên mẹ: Đào Thị B - Sinh năm 1969
Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba.
Họ tên chồng: Triệu Minh T2 – Sinh năm 1993.
Bị cáo có 02 con, sinh năm 2014 và sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 31/01/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
Những người tham gia tố tụng khác: Ông Trần Thanh T3, ông Trần Phú N - Cán bộ chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ tại điểm cầu thành phần.
Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần – Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đặng Thị T là người sử dụng trái phép ma túy tổng hợp (hàng đá). Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 27/01/2024, T đến khu vực bãi đất trống thuộc tổ F, khu phố D, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mua của người đàn ông (không rõ tên, địa chỉ) 03 (Ba) gói ma túy tổng hợp (hàng đá) với giá 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm nghìn đồng) để sử dụng. Sau đó, T đem 03 (Ba) gói ma túy nêu trên về nơi ở của T, địa chỉ tổ F, khu phố D, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Tại đây, T lấy một phần ma túy ra sử dụng, phần ma túy còn lại (03 gói) T cất giấu trong nhà để lúc khác sử dụng.
Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 31/01/2024, Nguyễn Thành Đ điều khiển xe mô tô đến nơi ở của T. Lúc này, T cất giấu 01 (Một) gói ma túy tổng hợp (hàng đá) trong túi quần phía trước bên trái T đang mặc, rồi lên ngồi sau xe mô tô do Đ điều khiển để Đ chở đi chơi. Đến khoảng 22 giờ 25 phút cùng ngày, khi Đ và T đi đến đường N, đoạn thuộc tổ D, khu phố D, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an phường A dừng xe kiểm tra. Nhìn thấy lực lượng Công an, T lấy gói ma túy đang cất giấu trong túi quần phía trước bên trái T đang mặc ném xuống mặt đường (cách vị trí Toan khoảng 01m) thì bị Công an phường A phát hiện bắt quả tang.
Khoảng 23 giờ 15 phút cùng ngày, Công an phường A khám xét nơi ở của T, phát hiện thu giữ 02 (Hai) gói ma túy tổng hợp (hàng đá) của T đang cất giấu để sử dụng. Đồng thời lực lượng Công an phát hiện thu giữ 01 (Một) vật giống súng màu đen, 04 (Bốn) viên đạn cao su, 08 (T4) viên đạn chì của Đ đang cất giấu tại tủ quần áo trong phòng ngủ của T.
Quá trình điều tra, Đặng Thị T khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng vụ án:
- 01 (gói) nylon bên trong chứa chất màu trắng thu giữ tại mặt đường cách nơi T đứng khoảng 01m (niêm phong gửi giám định ký hiệu M1).
- 01 (gói) nylon bên trong chứa chất màu trắng thu giữ tại phòng ngủ của T (niêm phong gửi giám định ký hiệu M2).
- 01 (gói) nylon bên trong chứa chất màu trắng thu giữ tại phòng bếp của T (niêm phong gửi giám định ký hiệu M3).
Tại Bản kết luận giám định số 314/KL-KTHS ngày 07/02/2024, Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận:
- Mẫu chất màu trắng (Ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,314gam, loại: Methamphetamine.
- Mẫu chất màu trắng (Ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,079gam, loại: Methamphetamine.
- Mẫu chất màu trắng (Ký hiệu M3) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 1,432gam, loại: Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 290/CT-VKSBH ngày 14/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Đặng Thị T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Thị T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
- [2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:
Vào ngày 31/01/2024, tại khu phố D, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Đặng Thị T có hành vi tàng trữ trái phép 1,825gam ma túy loại Methamphetamine thì bị Công an phường A phát hiện bắt quả tang.
- [3] Hành vi của bị cáo Đặng Thị T đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14.
- [4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy, là nguyên nhân làm lây lan các bệnh hiểm nghèo và làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
- [5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- [6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn
năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động, đang nuôi 02 con nhỏ. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51 Bộ luật Hình sự, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
- [7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ sau giám định.
- [8] Quá trình điều tra làm rõ Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an thành phố thành phố B đã xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đ. Đối với hành vi tàng trữ trái phép 01 (Một) vật giống súng màu đen, 04 (Bốn) viên đạn cao su, 08 (Tám) viên đạn chì của Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thụ lý tin báo về tội phạm để giải quyết theo quy định pháp luật. Quá trình điều tra, Đặng Thị T và Nguyễn Thành Đ đều khai Đ không liên quan và không biết việc T cất giấu ma túy. Do đó không có căn cứ xử lý Đ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- [9] Đối với người đàn ông (không rõ tên, địa chỉ) có hành vi bán ma túy cho T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
- [10] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- [11] Nhận định của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
- Tuyên bố bị cáo Đặng Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Đặng Thị T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2024.
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong số 314/KL-KTHS ngày 07/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
- (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Lê Ngọc Tuyền |
Bản án số 286/2024/HSST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 286/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Toan
