TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 286/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10/8/2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Sĩ Quang
Bà Nguyễn Thị Bích Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 10 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 275/2024/HNGĐ-TLST ngày 28/5/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 323/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/7/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 228/2024/QĐ-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024, giữa:
1. Nguyên đơn: Anh Hoàng Văn P, sinh ngày 01/4/1997.
Địa chỉ: Thôn C, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương.
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc L, sinh ngày 17/4/1998.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Cao Dương, xã Gia Khánh, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
Hiện ở: Đài Loan.
(Anh P, chị L đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn anh Hoàng Văn P trình bày:
Về quan hệ vợ chồng: Anh và chị L đều có thời gian lao động tại Đài Loan, hai bên quen biết, tự do tìm hiểu, đến đầu năm 2019 thì về Việt Nam đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương ngày 19/3/2019. Sau ngày cưới vợ chồng tiếp tục sang Đài Loan làm việc, hai bên sống hòa thuận, hạnh phúc được 1 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Tháng 7/2023 chị L ra ngoài ở, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Tháng 4/2024 anh về Việt Nam, chị L vẫn sinh sống ở nước ngoài. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị L.
Về quan hệ con chung: Anh và chị L có 01 con chung là Hoàng Mai L1, sinh ngày 04/10/2019. Hiện nay cháu L1 đang được anh chăm sóc, ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi con và tự nguyện không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh và chị L có tài sản chung là số tiền 500.000.000đồng. Ly hôn anh và chị L thỏa thuận chia đôi số tiền trên. Do chị L hiện không ở Việt Nam, chị L ủy quyền cho bà nội là Phạm Thị N nhận thay số tiền 250.000.000đồng, anh đã giao đủ tiền trên cho bà N nên ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về án phí: Anh tự nguyện chịu cả án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Chị Nguyễn Thị Ngọc L hiện đang lao động tại Đài Loan, do anh P không cung cấp được địa chỉ của chị L ở nước ngoài nên Tòa án đã xác minh địa chỉ của chị L thông qua gia đình. Bà Phạm Thị N và bà Vũ Thị S là bà nội và mẹ đẻ chị L xác định, chị L đang lao động ở Đài Loan, địa chỉ của chị L ở nước ngoài bà không biết, nhưng chị L thường xuyên liên lạc về gia đình. Việc anh P làm đơn ly hôn chị L đã biết, vì tháng 5/2024 chị L có về Việt Nam để giải quyết ly hôn, tuy nhiên các bên chưa thống nhất được việc nuôi con nên chị L tiếp tục sang Đài Loan làm việc. Bà N và bà S đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho chị L biết. Thông qua gia đình cũng như tại buổi làm việc với Tòa án, chị L đã trực tiếp gọi điện thoại về và thể hiện quan điểm: Vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nay anh P có đơn ly hôn chị đồng ý. Về con chung chị đồng ý để anh P nuôi con chung là Hoàng Mai L1 trong thời gian chị không ở Việt Nam. Khi nào chị về Việt Nam chị sẽ có quyền nuôi con. Về tài sản chung, chị xác định vợ chồng có 500.000.000đồng, hiện anh P đang quản lý, ly hôn chị và anh P thỏa thuận chia đôi số tiền trên. Chị ủy quyền cho bà nội là Phạm Thị N nhận tiền thay chị. Do điều kiện chị chưa thể về Việt Nam, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Chị ủy quyền cho bà nội và mẹ đẻ nhận thay các văn bản tố tụng của Tòa án. Ngày 17/6/2024 bà Phạm Thị N đã nhận đủ số tiền 250.000.000đồng thay cho chị L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa anh P và chị L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho anh P được ly hôn chị L. Về con chung: Giao cháu Hoàng Mai L1, sinh ngày 04/10/2019 cho anh Hoàng Văn P chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của anh P không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về án phí: Anh P phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Anh Hoàng Văn P và chị Nguyễn Thị Ngọc L có hộ khẩu thường trú tại: Thôn C, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương. Hiện chị L đang lao động tại Đài Loan. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Quá trình giải quyết vụ án, anh P không cung cấp được địa chỉ của chị L tại Đài Loan. Theo quy định tại Điều 10 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình chị L cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp được. Qua xác minh tại gia đình chị L được biết, chị L thường xuyên liên lạc với bà nội là Phạm Thị N và mẹ đẻ là Vũ Thị S. Bà N, chị S đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho chị L biết. Thông qua gia đình chị L cũng đã trực tiếp gọi điện về trình bày quan điểm của mình về việc ly hôn và nuôi con. Trong quá trình giải quyết vụ án anh P và chị L có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Do vậy căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn P và chị Nguyễn Thị Ngọc L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương ngày 19/3/2019, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc, đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, hai bên không tìm được tiếng nói chung. Tháng 4/2024 anh P về Việt Nam, đến tháng 5/2024 chị L cũng về Việt Nam nhưng hai bên không hàn gắn được tình cảm. Nay anh P có đơn ly hôn, chị L cũng đồng ý. Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh P và chị L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh P.
- Về quan hệ con chung: Anh Hoàng Văn P và chị Nguyễn Thị Ngọc L có một con chung là Hoàng Mai L1, sinh ngày 04/10/2019. Ly hôn anh P có nguyện vọng được nuôi con, chị L đồng ý để anh P nuôi con trong thời gian chị không ở Việt Nam, khi nào về Việt Nam chị sẽ được quyền nuôi con. Xét thấy, thực tế chị L đang ở nước ngoài nên không đủ điều kiện trực tiếp để nuôi con, cháu L1 được anh P chăm sóc và phát triển tốt nên để ổn định cuộc sống của cháu L1, cần tiếp tục giao cháu L1 cho anh P nuôi dưỡng. Nếu sau này anh P không đủ điều kiện nuôi con, thì chị L có quyền làm đơn đề nghị thay đổi nuôi con trong vụ án khác. Chấp nhận sự tự nguyện của anh P không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4].Về án phí: Anh Hoàng Văn P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Hoàng Văn P được ly hôn chị Nguyễn Thị Ngọc L.
- Về con chung: Giao con chung Hoàng Mai L1, sinh ngày 04/10/2019 cho anh Hoàng Văn P chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh P không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
Chị Nguyễn Thị Ngọc L được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Anh Hoàng Văn P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000737 ngày 28 tháng 5 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh P đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Anh Hoàng Văn P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Chị Nguyễn Thị Ngọc L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Các đương sự; - Cục THADS tỉnh Hải Dương; - UBND xã Gia Khánh - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 286/2024/HNGĐ-ST ngày 10/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
- Số bản án: 286/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
