|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 286/2024/DS-ST Ngày: 09-9-2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Bùi Thị Thuý Lan;
- Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 285/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 383/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 343/2024/QĐST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Trần Minh L, sinh năm 1978; thường trú: Số B, khu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Đình N, sinh năm 1986; địa chỉ: A, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; là người đại diện theo uỷ quyền (văn bản uỷ quyền ngày 28/02/2024). Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Trương Mộng T, sinh năm 1979; thường trú: Số A, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; chỗ ở: Số A, đường B, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 28-02-2024 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp thống nhất trình bày:
Ông Nguyễn Trần Minh L và bà Trương Mộng T là chỗ quen biết. Do bà T cần vốn để kinh doanh nên ngày 17/5/2023 bà T vay ông L số tiền 1.000.000.000 đồng, do quen biết và tin tưởng nhau nên ông L không làm giấy vay tiền với bà T và không thoả thuận lãi suất vay. Bà T hứa khi nào ông L cần tiền thì bà T sẽ trả lại cho ông L bất cứ thời gian nào. Đến cuối năm 2023, ông L hỏi lấy lại số tiền trên nhưng bà T lấy lý do kinh tế khó khăn chưa có tiền trả. Ngày 29/11/2023 bà T có lập Giấy xác nhận vay tiền với nội dung xác nhận ngày 17/5/2023 bà T có vay ông L số tiền 1.000.000.000 đồng, bà T mong muốn được trả dần số tiền trên cho ông L mỗi tháng 50.000.000 đồng cho đến khi trả hết tiền, thời hạn thanh toán được tính bắt đầu từ ngày 29/12/2023. Nội dung xin trả tiền hàng tháng là mong muốn của bà T, ông L không xác nhận đồng ý, tuy nhiên do trước đây việc mượn tiền không lập bằng văn bản nên nay bà T lập Giấy xác nhận nợ, ông L buộc phải lưu giữ để có căn cứ đòi nợ bà T. Vì thực tế số tiền vay trên bà T đã vay của ông L thời gian trước đó đã lâu, cam kết là trả lại cho ông L bất cứ lúc nào ông L cần. Tuy nhiên đến khi ông L cần tiền, hỏi hết lần này qua lần khác nhưng bà T không trả cho ông L. Đến thời điểm hiện tại bà T cũng không trả cho ông L bất cứ khoản tiền nào mặc dù bà T là người ghi mong muốn trả hàng tháng cho ông L trong giấy xác nhận. Nay ông L yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Trương Mộng T phải trả cho ông L số tiền như sau:
- + Tiền nợ gốc là 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng);
- + Tiền lãi chậm trả tính từ ngày quá hạn trả là ngày 30/12/2023 cho đến ngày xét xử sơ thẩm 09/9/2024 (08 tháng 10 ngày) với lãi suất 10%/năm là: 1.000.000.000 đồng x 10%/năm x 08 tháng 10 ngày = 69.100.000 đồng.
Như vậy tổng số tiền ông Nguyễn Trần Minh L yêu cầu bà Trương Mộng T phải trả là: 1.069.100.0xxx đồng.
Ngoài ra, nguyên đơn không có yêu cầu gì khác.
- Bị đơn bà Trương Mộng T: Bà T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, giấy triệu tập đến Tòa án tự khai trình bày ý kiến, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng trong suốt quá trình tố tụng bị đơn đều vắng mặt, không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào ngày 23/8/2024, 09/9/2024 nhưng bị đơn đều vắng mặt. Căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là đúng quy định.
Về nội dung: Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn bà Trương Mộng T đã được Tòa án triệu tập để tham gia phiên tòa vào các ngày 23/8/2024, 09/9/2024 nhưng bà T vắng mặt không rõ lý do. Nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng theo quy định của Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Nguyên đơn ông Nguyễn Trần Minh L khởi kiện yêu cầu bà Trương Mộng T trả số tiền vay là 1.000.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả. Chứng cứ do nguyên đơn xuất trình là bản chính Giấy xác nhận vay tiền ngày 29/11/2023. Nội dung Giấy xác nhận vay tiền có nội dung: “Tôi tên là: Trương Mộng T, sinh năm 1979... thường trú tại: A, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vào ngày 17 tháng 5 năm 2023, tôi cần tiền để làm ăn nên tôi có đến nhờ ông Nguyễn Trần Minh L, sinh năm 1978... để vay số tiền là 1.000.000.000 (Một tỷ đồng) thì ông L đồng ý cho tôi vay. Do việc làm ăn khó khăn nên tôi chưa thanh toán số tiền mà tôi đã vay của ông L được. Nay tôi đồng ý thanh toán dần cho ông L mỗi tháng 50.000.000 đồng cho đến khi hết số tiền mà tôi đã vay của ông L, thời gian thanh toán tiền vay tính từ ngày 29 tháng 12 năm 2023.”. Cuối văn bản trên, tại mục “Người vay tiền” có chữ ký, lăn tay, ghi họ tên Trương Mộng T. Quá trình tố tụng, Tòa án đã thông báo cho bị đơn về việc thụ lý vụ án, các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, các văn bản tố tụng khác và yêu cầu bị đơn cung cấp chứng cứ đối với yêu cầu của nguyên đơn nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do đồng thời không cung cấp cho Tòa án văn bản thể hiện việc phản đối yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Căn cứ Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự, xác định việc bị đơn vay tiền nguyên đơn là có thật, số tiền vay là 1.000.000.000 đồng. Nguyên đơn trình bày mặc dù thời điểm vay tiền ngày 17/5/2023 hai bên không thoả thuận thời hạn thanh toán nhưng sau khi nguyên đơn cần tiền yêu cầu thanh toán thì bị đơn không thanh toán. Điều này phù hợp với nội dung của Giấy xác nhận vay tiền về việc bị đơn làm ăn khó khăn chưa thanh toán được tiền cho nguyên đơn. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán hai bên thoả thuận. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại số tiền vay 1.000.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận, phù hợp quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015. Giấy xác nhận vay tiền ngày 29/11/2023 không thể hiện thoả thuận về lãi vay, đồng thời nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
[2.2] Về lãi chậm thanh toán: Căn cứ nội dung Giấy xác nhận vay tiền thể hiện bà Trương Mộng T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ trước khi ký giấy xác nhận vay tiền. Bà T cam kết thanh toán cho ông L mỗi tháng 50.000.000 đồng, thời gian thanh toán tính từ ngày 29/12/2023, đây là ý chí tự nguyện của bị đơn không phải thoả thuận lại giữa hai bên về thời hạn thanh toán. Nay nguyên đơn tự nguyện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi chậm trả từ ngày 30/12/2023 là có lợi cho bị đơn và phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận. Do hai bên không thoả thuận về lãi suất nên lãi chậm trả được tính theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự từ ngày 30/12/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 09/9/2024 như sau: 1.000.000.000 đồng x 10%/năm x 8 tháng 10 ngày = 69.100.000 đồng.
[2.3] Như vậy tổng số tiền buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn là: 1.000.000.000 đồng + 69.100.000 đồng = 1.069.100.000 đồng.
[3] Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, 147, 238, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Trần Minh L về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với bị đơn bà Trương Mộng T.
Buộc bà Trương Mộng T trả cho ông Nguyễn Trần Minh L số tiền 1.069.100.000 (một tỷ không trăm sáu mươi chín triệu một trăm nghìn) đồng, trong đó gồm: 1.000.000.000 đồng tiền vay, 69.100.000 đồng tiền lãi chậm trả.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trương Mộng T phải chịu 44.073.000 (bốn mươi bốn triệu không trăm bảy mươi ba nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho ông Nguyễn Trần Minh L 21.750.000 (hai mươi mốt triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002920, ngày 09/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hồng |
Bản án số 286/2024/DS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 286/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Nguyễn Trần Minh Liêm khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay với bị đơn bà Trương Mộng Thu
