Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 286/2025/HS-PT

Ngày: 02/04/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hường
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Trâm Anh
Bà Lê Hải Yến

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Phương Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 04 năm 2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 225/2025/TLPT-HS ngày 04 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo Phạm Ngọc T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 03/2025/HS-ST ngày 07/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

Bị cáo có kháng cáo: Phạm Ngọc T, sinh ngày 18/8/2008, tại Nghệ An (tính đến ngày phạm tội 16 tuổi, 1 tháng 27 ngày); Nơi ĐKHKTT cư trú: Xóm B xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Phạm Ngọc H (đã chết) và bà: Dương Thị P; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/10/2024 đến ngày 24/10/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người đại diện theo pháp luật của bị cáo: Bà Dương Thị P, sinh năm 1985 (mẹ đẻ bị cáo)

Trú tại: Xóm B, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An (có mặt)

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đỗ Thị H1 - Luật sư - Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư Thành phố H

Địa chỉ: Tổ B, Cụm I, phường X, quận T, thành phố Hà Nội.(có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Từ khoảng tháng 4/2024, Phạm Ngọc T nảy sinh ý định mua bán pháo nổ để kiểm lời nên T có tìm hiểu trên các hội nhóm F và biết người dùng tài khoản Zalo "A T1 93" là người bán pháo. T đã liên hệ với "A T1 93" để mua pháo nổ 2-3 lần, mỗi lần 5 - 10 dây pháo sau đó bán lại cho những người không quen biết. Ngày 03/10/2024, T đặt mua của "A T1 93" 05 dây pháo với giá 350.000 đồng/01 dây. Đến tối ngày 05/10/2024, "A T1 93" hẹn T ra khu vực quốc lộ C ở xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An giao cho T 05 dây pháo. T nhận pháo và thanh toán 1.750.000 đồng tiền mặt cho "A T1 93". Sau đó T để 05 dây pháo này ở nhà tại xóm B, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An với mục đích bán kiếm lời.

T sử dụng tài khoản Facebook "Phạm Thắng", được đăng ký bằng số điện thoại 0867.497.xxx. Khoảng tháng 5/2024, T tham gia nhóm Facebook "Hội Hoa Đăng" - là nhóm kín chuyên mua bán pháo nổ. Lúc này T có đăng bài rao bán kèm hình ảnh pháo nổ. Sau khoảng 5 ngày T đã xóa bài đăng bày và từ đó không đăng bài rao bán pháo trên nhóm nữa. Đến ngày 08/10/2024, có tài khoản Facebook "Trần Đ" liên hệ qua Facebook với T hỏi mua pháo nổ, loại một dây dài 1m. T thỏa thuận giá bán một dây pháo cho "Trần Đ" là 520.000 đồng/01 dây, tổng giá trị 05 dây pháo là 2.600.000 đồng. "Trần Đ" đồng ý và đặt mua của T 05 dây pháo. T yêu cầu "Trần Đ" đặt cọc tiền nên "Trần Đ" đã chuyển khoản đặt cọc cho T 500.000 đồng thông qua hình thức chuyển khoản vào tài khoản số 0867497148 tại ngân hàng B. "Trần Đ" nhắn cho T thông tin người nhận hàng là: Trần Đức; địa chỉ: Chung cư T, khu Đ, huyện T, thành phố Hà Nội. Lúc này, T có sẵn 05 dây pháo ở nhà, loại dài 1m/01 dây, một dây pháo gồm 80 quả pháo hình trụ tròn màu đỏ, kích thước 6x2,5cm, 02 quả pháo hình trụ tròn màu đỏ, kích thước 6x5cm và 01 quả pháo hình trụ tròn màu đỏ, kích thước 10x5cm được nối với nhau bằng dây cháy chậm. T đã đóng 05 dây pháo này vào thùng catton kích thước khoảng 50x25x25cm và quấn nilong bên ngoài thùng catton. Đến khoảng hơn 16h ngày 11/10/2024, T mang thùng catton chứa 05 dây pháo đến bưu cục 3 Chợ Mới có địa chỉ tại Xóm H xã N, thị Xã T, tỉnh Nghệ An để gửi cho "Trần Đ". Đơn hàng này của T có mã vận đơn là EC460721451VN, T nhờ bưu cục thu hộ T số tiền của "Trần Đ" là 2.400.000 đồng (gồm 2.100.000 đồng tiền còn lại của đơn hàng và số tiền 300.000 đồng là Đ trả trước cho lần mua pháo tiếp theo).

Đến ngày 15/10/2024, khi thùng catton chứa pháo nổ của T gửi đến kho Bưu cục phát T2, địa chỉ: số G đường N, thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội thì bị nhân viên bưu cục nghi ngờ và trình báo đến Công an huyện T để giải quyết.

Tại Cơ quan Công an, bưu phẩm được mở ra, bên trong phát hiện 05 bọc được bọc bằng màng bọc ni lông trong suốt gồm các ống hình trụ màu đỏ nghi là pháo nổ có tổng trọng lượng 7,720kg. Mỗi bọc chứa: 80 ống hình trụ giấy màu đỏ kích thước (06 x 2,5) cm; 01 ống hình trụ giấy màu đỏ kích thước (10 x 4,5) cm; 02 ống hình trụ giấy màu đỏ kích thước (06 x 04) cm, nối với nhau bằng dây dẫn màu trắng.

Đến chiều ngày 15/10/2024, khi T đến bưu cục 3 Chợ M để lấy tiền thu hộ thì bị Cơ quan Công an kiểm tra. T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ sự việc như đã nêu trên.

Cơ quan Điều tra tiến hành Khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Ngọc T tại xóm B, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An, Cơ quan Công an thu giữ nhiều vật chứng liên quan đến việc sản xuất và chế tạo pháo nổ, cụ thể như sau: 01 đoạn dây dẫn cháy màu xanh dài 06m; 01 chiếc thìa; 100 tờ giấy màu đỏ dùng để quấn pháo; 100 tờ giấy màu đỏ có in chữ “Vạn sự như ý”; 03 túi ni lông chứa chất bột màu trắng; 01 túi ni lông chứa chất bột màu vàng; 01 lọ keo dán “NPL 502”; 01 hộp nhựa nắp màu đỏ chứa chất bột màu vàng; 01 hộp nhựa ghi chữ Nei Mỹ chứa chất bột màu đen; 01 hộp nhựa ghi chữ Viên Hà thủ ô chứa chất bột màu đen; 01 phễu nhựa màu ghi; 01 chiếc nồi kim loại màu xám, không có nắp, bên trong chứa chất bột màu xám; 01 bát nhựa và 01 vợt có tay cầm màu vàng; 01 cuộn màng bọc thực phẩm; 100 ống hình trụ tròn màu đỏ kích thước (6 x 2,5) cm, bên trong mỗi ống chứa chất bột màu đen; 04 ống hình trụ tròn màu đỏ kích thước (6 x 5) cm, bên trong mỗi ống chứa chất bột màu đen.

Cơ quan Điều tra tiến hành trưng cầu Phòng K - C giám định pháo nổ đối với số đồ vật tạm giữ trong vụ việc trên.Tại bản kết luận giám định số 7537 ngày 23/10/2024 của Phòng K - C cho kết quả như sau:

“1. Tang vật do anh An Đức V (là nhân viên bưu tá) giao nộp gồm:

  • - 05 bọc, bên ngoài được bọc bằng màng bọc nilông trong suốt, bên trong mỗi bọc có 80 ống hình trụ tròn bằng giấy màu đỏ kích thước (6x2,5)cm, 01 ống hình trụ bằng giấy màu đỏ kích thước (10x4,5)cm, 02 ống hình trụ giấy màu đỏ kích thước (6x4)cm được gắn với nhau bằng dây dẫn màu trắng đều là P1 nổ, tổng khối lượng: 7,626 kg.

2. Tang vật thu giữ khi khám xét chỗ ở của Phạm Ngọc T gồm:

  • - 01 đoạn dây dẫn cháy màu xanh dài 6m là Ngòi pháo. Ngòi pháo có tính năng dẫn nhiệt, có tác dụng dẫn lửa gây nổ pháo, khối lượng: 39,06 gam.
  • - 03 túi nilông bên trong chứa chất bột màu trắng là KaliClorat (KC1O3), tổng khối lượng: 1810,51 gam.
  • - 01 túi nilông bên trong chứa chất bột màu vàng là Lưu huỳnh (S), khối lượng: 149,81 gam.
  • - 01 hộp nhựa nắp màu đỏ bên trong chứa chất bột màu vàng là Lưu huỳnh (S), khối lượng: 161,10 gam.
  • - 01 chiếc nồi bằng kim loại màu xám không có nắp, bên trong chứa chất bột màu xám là Thuốc pháo nổ, khối lượng: 203,51 gam.
  • - 01 hộp nhựa ghi chữ Viên Hà Thổ Ô bên trong chứa chất bột màu đen là Thuốc 4 pháo nổ, khối lượng: 114,52 gam.
  • - 01 hộp nhựa ghi chữ Nei Mỹ bên trong chứa chất bột màu đen là bột Than (C), khối lượng: 381,132 gam.
  • - 100 ống hình trụ tròn màu đỏ kích thước (6x2,5)cm và 04 ống hình trụ tròn màu đỏ kích thước (6x5)cm bên trong các ống đều chứa chất bột màu đen có tổng khối lượng: 1938,13 gam (trong đó chất bột màu đen có tổng khối lượng: 109,32 gam, là thuốc pháo nổ).

Căn cứ theo các nội dung được quy định tại khoản 7, điều 3 của Luật số 14/2017/QH14, ngày 20/6/2017 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 50/2019/QH14, ngày 25/11/2019 Quốc hội và tại khoản 2, điều 3 của Nghị định số 137/2020/NĐ-CP, ngày 27/11/2022 của Chính phủ về quản lý, sử dụng pháo thì Thuốc pháo nổ không thuộc nhóm vật liệu nổ.”.

Tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo H2 khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bị cáo thừa nhận, trong khoảng thời gian từ tháng 04/2024 đến tháng 10/2024 tại Xóm B, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An, Phạm Ngọc T đặt mua pháo nổ và trực tiếp sản xuất pháo nổ với mục đích bán kiếm lời. Sau khi thỏa thuận thì khách mua chuyển khoản thanh toán tiền một phần qua tài khoản ngân hàng và T đóng gói chuyển hàng thông qua các bưu cục chuyển phát theo địa chỉ người mua cung cấp. Ngày 11/10/2024, Phạm Ngọc T bán 7,626 kg pháo nổ (gồm 05 dây pháo, mỗi dây dài 1m) cho đối tượng có tài khoản Facebook Trần Đ, địa chỉ T, huyện T, thành phố Hà Nội với giá 2.600.000 đồng bằng hình thức chuyển phát nhanh từ bưu cục 3 Chợ M, xóm H xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Khi số pháo nổ T bán được vận chuyển đến kho Bưu cục phát T2, địa chỉ: số G đường N, thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội thì bị Bưu cục và Cơ quan Công an phát hiện thu giữ tang vật.

Bản cáo trạng số 264/CT-VKSTT ngày 30 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội truy tố Phạm Ngọc T, về tội “Buôn bán hàng cầm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Bản án sơ thẩm số 03/2025/HS-ST ngày 07/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội đã quyết định

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38, 47, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự 2015.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Ngọc T 08 (tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/10/2024 đến ngày 24/10/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07/01/2025 bị cáo Phạm Ngọc T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo và khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã quy kết, đề nghị HĐXX cho bị cáo được cải tạo không giam giữ.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo đề nghị cho bị cáo được cải tạo không giam giữ để bị cáo tiếp tục được đi học và nộp đơn có xác nhận của UBND xã N về việc hoàn cảnh gia đình khó khăn.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị cho bị cáo 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa, sau khi xem xét kháng cáo của bị cáo, đề nghị:

Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung: Bản án sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức hình phạt của bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo 08 tháng tù là nghiêm khắc. Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 1 điều 355, điểm e khoản 1 điều 357, điều 65 BLHS chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, đề nghị HĐXX xử bị cáo 8 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Bị cáo không phải nộp án phí phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo đúng về chủ thể kháng cáo, nộp trong thời hạn luật định nên được giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.

[2]. Về nội dung: Theo lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, cũng như tại phiên tòa phúc thẩm và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Phạm Ngọc T đã có hành vi lên mạng xã hội mua pháo về để bán lại kiếm lời, khối lượng pháo bị cáo mua bán khi bị bắt là 7,626 kg pháo nổ.

Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử Phạm Ngọc T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Ngọc T, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình khó khăn, hiện nay đang đi học có xác nhận của trường THPT Đ1, có nơi cư trú rõ ràng. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 08 tháng tù là nghiêm khắc, nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Ngọc T, sửa bản án sơ thẩm số 03/2025/HS-ST ngày 07/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

[2]. Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 65, điều 47, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt Phạm Ngọc T 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Buôn bán hàng cấm”.

Giao bị cáo về UBND thị xã T, tỉnh Nghệ An để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

[3]. Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Phạm Ngọc T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKS TP. Hà Nội;
  • - VKS, Tòa án, Chi cục THADS huyện Thanh Trì;
  • - Công an thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Thu Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 286/2025/HS-PT ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 286/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HS - Phạm Ngọc Thắng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger