Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 286/2024/HS - ST

Ngày 26 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Hiền

Ông Bùi Đức Nhân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lư Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Kim Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 256/2024/TLST-HS ngày 21/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 277/2024/QĐXXST- HS ngày 12/11/2024 đối với bị cáo: Lê Văn L, sinh ngày 29/6/1985 tại huyện M, thành phố Hà Nội; Nơi thường trú: thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn B và bà Lê Thị N; có vợ Nguyễn Thị Đ và 01 con; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 23/12/2009 bị Tòa án nhân dân (TAND) huyện P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 12/11/2011, bị TAND huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/7/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.

Bị hại: chị Đinh Tuyết N1, sinh năm 2004.

Nơi thường trú: thôn Đ, xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.

Người làm chứng: Anh Nguyễn Duy T và anh Phạm Hồng T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 27 tháng 7 năm 2024, tại khu vực trước quán bar V thuộc khu E, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Lê Văn L có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, trị giá 9.328.000 đồng của chị Đinh Tuyết N1.

Vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra Công an thành phố H thu giữ 01chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu trắng.

Bị cáo giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy màu đen.

Kết luận định giá tài sản số 146/KLĐGTS ngày 28/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố H xác định 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax trị giá 9.328.000 đồng.

Lời khai của bị cáo Lê Văn L: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 27/7/2024 bị cáo đến quán bar V ở phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh chơi. Khi bị cáo đến khu vực vũ công nhảy trước cửa bar để xem thì thấy một người phụ nữ mặc váy yếm bò màu đen để 01 chiếc điên thoại di động Iphone màu trắng ở trong túi bên phải phía trước, một phần của máy bị thò ra ngoài . Do không có tiền chi tiêu bị cáo lại gần chị phụ nữ, dùng tay luồn vào túi, lấy trộm chiếc máy điện thoại rồi quay bỏ đi. Ngay lúc đó chị phụ nữ túm tay bị cáo và hô hoán “ăn trộm, ăn cướp”. Bị cáo vất chiếc điện thoại vừa lấy trộm được xuống đất và bỏ chạy ra đường. Bị cáo chạy được khoảng 20 mét thì bị an ninh của quán bar V mọi người bắt giữ.

Bị hại chị Đinh Tuyết N1 có lời khai: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 27/7/2024 chị đang đứng gần khu vức quầy vũ công trước cổng bar V để xem, chị có để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax ở túi trước bên phải váy yếm bò đang mặc, chi đang quay người hường ra đường, thì cảm thấy có người thò tay vào túi. Ngày lập tức chi thấy mất chiếc điện thoại, chị quay người sang bên phải thấy có một người đàn ông trên tay đang cầm chiếc điện thoại của chị, chị lao đến cầm vào tay trái của người đàn ông người đàn ông giằng tay và ném chiếc điện thoại xuống đất. Giằng được tay ra người đàn ông bỏ chạy băng qua vườn hoa trước cửa quán baV. Chị đuổi theo phía sau và hô ăn trộm, ăn cướp. Chạy được khoảng 15 mét người đàn ông bị một số nhân viên an ninh của quán bar V.

Người làm chứng anh Nguyễn Duy T và anh Phạm Hồng T1 có lời khai: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 27/7/2024 hai anh đang làm nhiệm vụ sắp xếp xe cho khách tại khu vực trước cửa quán bar V nghe thấy có tiếng hô bị trộm các anh cùng một số người khác đuổi theo 01 nam thanh niên, được khoảng 20 mét thì hai anh đuổi kịp và giữ được người thanh niên. Lúc này có chị phụ nữ cũng chạy đến và nói vừa bị nam thanh niên trộm cắp chiếc điện thoại.

Cáo trạng số: 4914/CT-VKSHL ngày 17/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long truy tố bị cáo Lê Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Kiểm sát viên trình bày luận tội, đưa ra các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn L từ 15 đến 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 28/7/2024. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại bị cáo Lê Văn L 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy kèm 02 sim.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; bị hại không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, khẳng định việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận định giá tài sản; biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, bản ảnh vật chứng; Đơn trình báo; Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; Bản luận tội kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa. Với những chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ của vụ án, ý kiến của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 27 tháng 7 năm 2024, tại khu vực trước quán bar V thuộc khu E, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Lê Văn L có hành vi trộm cắp tài sản 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu trắng, trị giá 9.328.000 đồng của chị Đinh Tuyết N1.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm đối với xã hội; đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị án tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho quần chúng nhân dân. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS), phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; bị cáo nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng do ý thức chấp hành pháp luật kém, lười lao động; trộm cắp tài sản mục đích bán lấy tiền ăn tiêu. Hành vi phạm tội của bị cáo đã thỏa mãn dấu hiệu và đủ yếu tố cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản ”, tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, tội phạm thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị xét xử đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.

[3] Xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ TNHS và tăng nặng trách TNHS của bị cáo: bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và trộm cắp tài sản.Về tình tiết tăng nặng: không. Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại

điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Hội đồng xét xử xem xét giảm một phần hình phạt để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật mà cải tạo, giáo dục thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ TNHS và nhân thân của bị cáo cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo thành công dân tốt, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, xét thấy bị cáo không có việc làm, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường.

[7] Về vật chứng vụ án: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax Cơ quan điều tra Công an thành phố H đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, nên HĐXX không xem xét giải quyết. Đối với 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy là tài sản của của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại bị cáo.

[8] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử phạt bị cáo Lê Văn L 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 28 tháng 7 năm 2024 về tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử lý vật chứng: Trả bị cáo 01 (một) chiếc điên thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy, kèm 02 sim tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 14/BB - THA ngày 18/10/2024 giữa Công an thành phố H và Chi cục THA dân sự thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Lê Văn L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Quyền kháng cáo bản án: bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Viện KSND thành phố Hạ Long, Viện KSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan điều tra, Cơ quan THA hình sự Công an thành phố Hạ Long, Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THA dân sự thành phố Hạ Long;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu: Hồ sơ - Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trọng Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 286/2024/HS - ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 286/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 12 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger