Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH TÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 286/2024/HS-ST

Ngày 25-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Huỳnh Văn Ái;

Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Thanh Tâm và Lê Thị Tý.

- Thư ký phiên tòa: ông Chiêm Tiền Quí Nhân-Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Trung Tiến-Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 239/2024/TLST-HS, ngày 18 tháng 7 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 364/2024/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Đinh Văn Q, sinh năm 1992, tại tỉnh Hậu Giang. Nơi thường trú: Ấp C, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; nơi ở: không ổn định; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Anh C (chết) và bà Huỳnh Thị N; có vợ và 01 con sinh 2020; tiền án, tiền sự: không có; bị bắt tạm giam ngày từ ngày 23-11-2022 cho đến nay “có mặt”;
  2. Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1993, tại tỉnh Hậu Giang. Nơi thường trú: Ấp B, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang; nơi ở: nhà số B, đường H, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V và bà Huỳnh Thị Ú; có vợ và 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không có; bị bắt tạm giam ngày từ ngày 16-11-2022 cho đến nay “có mặt”;
  3. Bùi Hữu T1, sinh năm 1984, tại tỉnh Hậu Giang. Nơi thường trú: Ấp G, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang; nơi ở: không ổn định; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn R và bà Lê Thị Ngọc E (chết); có vợ và 03 con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không có; bị bắt tạm giam ngày từ ngày 16-11-2022 cho đến nay “có mặt”;
  4. Bùi Hữu N1, sinh năm 1982, tại Thành phố Cần Thơ. Nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Cần Thơ; nơi ở: nhà số G, Ấp G (mới: Ấp B), xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn C1 và bà Đặng Thị D (đã ly hôn); có vợ và 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không có; bị bắt tạm giam ngày từ ngày 27-4-2024 cho đến nay “có mặt”;
  5. Thái Văn N2, sinh năm 1989, tại tỉnh Cà Mau. Nơi thường trú: ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau; nơi ở: nhà số D, Lô M, Ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Văn T2 và bà Dương Thị L; có vợ (không đăng ký kết hôn) và 01 con sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: ngày 31/7/2020, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố H áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (đã chấp hành xong Quyết định ngày 10/7/2021, do phạm tội xảy ra vào ngày 10/5/2020 nên không được coi là tiền sự); bị bắt tạm giam ngày từ ngày 27-4-2024 cho đến nay “có mặt”;
  6. Nguyễn Hữu L1, sinh năm 1980, tại tỉnh An Giang. Nơi thường trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang; nơi ở: không ổn định; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Bùi Ngọc H; có vợ, chưa có con; tiền án, tiền sự: không có; bị tạm giữ ngày 23-4-2021 (trong trường hợp khẩn cấp), tạm giam ngày từ ngày 02-5-2021 cho đến nay “có mặt”.

*Những người tham gia tố tụng khác:

  1. Bị hại và đồng thời là bị cáo: Nguyễn Hữu L1, sinh năm 1980. Nơi thường trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: không ổn định “có mặt”;
  2. Bị hại và đồng thời là bị cáo: Bùi Hữu T1, sinh năm 1984. Nơi thường trú: Ấp G, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: không ổn định “có mặt”;
  3. Bị hại: anh Nguyễn Hữu L2, sinh năm 1988. Nơi thường trú và cư trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang “vắng mặt”;
  4. Bị hại: anh Nguyễn Hữu P, sinh năm 1982. Nơi thường trú và cư trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ ngày 10/5/2020, Đinh Văn Q đang ngồi uống rượu bia cùng với Bùi Hữu T1 và Nguyễn Ngọc Đ thì Nguyễn Hữu L1 gọi điện thoại cho Q nói chuyện về sự việc mâu thuẫn trước đó giữa Q với người em của L1 ngoài xã hội. Lúc này, 02 bên xảy ra cãi vã nhau làm cho Q tức giận nên rủ T1 và Đ mang hung khí đến phòng trọ của L1 để đánh nhau giải quyết thì cả 02 đồng ý. Sau đó, T1 gọi điện thoại rủ thêm Thái Văn N2, còn Đ gọi điện thoại rủ thêm Bùi Hữu N1 cùng đi tìm L1 để đánh thì được N2 và N1 đồng ý; riêng T1 còn chuẩn bị sẵn 01 túi hung khí gồm: gậy 03 khúc, ống sắt, dao tự chế và bình xịt hơi cay mang theo. Khi cả nhóm có mặt gần phòng trọ của L1 tại số A, đường H, phường A, quận B, T1 đưa cho Q 01 cây gậy 03 khúc, Đầy 01 cây gậy 03 khúc và một bình xịt hơi cay; còn Q, T1 và Đ cầm ống sắt, dao tự chế đi đến vào phòng trọ của L1 nhìn thấy L1 cùng với các anh Nguyễn Hữu L2, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Hữu G và Lê Chí T3 đang ngồi uống rượu bia với nhau. Lúc này, thấy nhóm của Q cầm hung khí xông tới nên L1 cầm cái ghế gỗ ném về phía Q, nhưng không trúng ai rồi cả 02 bên lao vào đánh nhau hỗn loạn. Trong lúc đuổi đánh Q, do L1 nhìn thấy anh L2 nằm bất tỉnh dưới đất nên chạy đến để đỡ anh L2 đứng lên. Tuy nhiên, khi L1 vừa mới đến gần chỗ anh L2 thì liền bị T1 dùng cây xẻng cán bằng gỗ dài 120cm, lưỡi bằng kim loại dài 39cm đánh nhưng không trúng và làm cho cây xẻng rơi xuống đất. Thấy vậy, L1 nhặt cây xẻng lên và cầm 02 tay đánh 01 cái trúng vào vùng mặt của T1 gây thương tích 28%. Cùng lúc này, Q cầm con dao tự chế (lưỡi bằng kim loại màu đen, dài 39cm, bản rộng 07cm) lao đến chém 01 nhát trúng vào vùng khuỷu tay trái của L1 gây thương tích 29%; còn Đ dùng dao tự chế (tương tự dao của Q) chém 02 nhát trúng vào vùng cẳng tay trái của anh P gây thương tích 04%; riêng anh L2 thì bị chém 02 nhát trúng vào vùng trán trái gây thương tích 03% thì không rõ ai là người trực tiếp gây ra. Cũng trong lúc này, Nguyễn dùng cây xẻng, còn N1 dùng cây sắt cùng lao vào đánh nhóm người của L1 để giải vây cho T1, nhưng không trúng ai rồi mới giải tán. Sau khi nhận được tin báo, Công an phường A đã đến hiện trường lập hồ sơ xử lý ban đầu rồi chuyển cho Cơ quan điều tra giải quyết theo thẩm quyền. Tại đây: Quí, Đ, T1, N1, N2 và L1 đều đã khai nhận toàn toàn bộ hành vi như vừa mới nêu trên. Các lời khai này phù với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ nên đã đủ cơ sở xác định: Quí, Đ, T1, N1 và N2 đã cùng nhau thống nhất ý chí thực hành vi “Dùng hung khí nguy hiểm” như: dao tự chế, gậy 03 khúc, ống sắt, xẻng đánh gây thương tích cho Lợi 29%, anh P 04% và anh L2 03%; riêng L1 độc lập dùng cây xẻng đánh gây thương tích cho T1 là 28% và cả 04 bị hại đều có đơn yêu cầu xử lý hình sự nên cả Q, Đ, T1, N1, N2 và L1 phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã gây ra. Về trách nhiệm dân sự: sau khi L1 cùng với các anh P và L2 được Quí bồi thường thiệt hại 60.000.000 đồng thì L1 trích ra 52.000.000 đồng bồi thường thiệt hại cho T1, các bên đã tự thỏa thuận giải xong và không còn yêu cầu gì thêm. Về vật chứng gồm: 01 cây xẻng dài 120cm, có phần lưỡi bằng kim loại dài 39cm; 01 ống sắt vuông dài 74cm, bề rộng 3cm; 01 ống sắt vuông dài 100cm, bề rộng 3cm; 01 ống sắt vuông dài 160cm, đường kính 3cm; 02 cây gậy 03 khúc bằng kim loại; 01 bình xịt hơi cay; 01 cái ghế nhựa màu xanh và 01 con dao kim loại màu đen dài 39cm x 7cm, tiếp tục tạm giữ chờ giải quyết sau.

Riêng đối với các anh Nguyễn Hữu P, Nguyễn Hữu L2, Nguyễn Hữu G và Lê Chí T3 thì trong quá trình điều tra đã xác định: các anh không bàn bạc, không thống nhất việc đánh nhau, không chuẩn bị hung khí, không biết trước việc nhóm người của Q đến phòng trọ đánh L1. Còn việc các anh P, L2, G và T3, tuy có cầm cây sắt lao vào đánh trả lại nhóm của Q chỉ là phản kháng tự nhiên để tự vệ khi bị nhóm của Q dùng hung khí tấn công; trong khi đó, hành vi của L1 dùng xẻng đánh gây thương tích cho bị hại T1 là bộc phát, độc lập nằm ngoài ý muốn của các anh P, L2, G và T3 nên không có căn cứ coi các anh là đồng phạm với L1. Còn đối với hành vi “Gây rối trật tự công cộng” thì: do sự việc diễn ra trong thời gian ngắn vào ban ngày, không có camera ghi lại hành vi của 02 bên và mang tính bộc phát, nhất thời; ngoài ra tại thời điểm xảy ra sự việc, cuộc sống của người dân xung quanh vẫn diễn ra bình thường và không làm ảnh hưởng gì đến ai nên không có căn cứ để xứ lý các tên trên về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Đinh Văn Q, Nguyễn Văn Đ1, Bùi Hữu T1, Bùi Hữu N1 và Thái Văn N2 cùng khai nhận: khi bị cáo Q và bị cáo Nguyễn Hữu L1 xảy ra mâu thuẫn lúc nói chuyện điện thoại, bị cáo Q rủ 02 bị cáo T1 và Đ1 mang hung khí đến phòng trọ của bị cáo L1 để đánh nhau giải quyết thì cả 02 bị cáo đồng ý rồi bị cáo T1 gọi điện thoại rủ thêm bị cáo Thái Văn N2, còn bị cáo Đ1 gọi điện thoại rủ thêm bị cáo Bùi Hữu N1 cùng đi tìm L1 để đánh thì cả 02 đều đồng ý và lúc đó, bị cáo T1 chuẩn bị sẵn 01 túi hung khí mang theo, gồm: gậy 03 khúc, ống sắt, dao tự chế và bình xịt hơi cay. Khi cả nhóm có mặt gần phòng trọ của bị cáo L1 thì: bị cáo T1 đưa cho bị cáo Q 01 cây gậy 03 khúc, bị cáo Đ1 01 cây gậy 03 khúc và một bình xịt hơi cay; còn các bị cáo Q, T1 và Đ1 cầm ống sắt, dao tự chế đi đến vào phòng trọ của bị cáo L1 nhìn thấy bị cáo L1 cùng với các anh Nguyễn Hữu L2, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Hữu G và Lê Chí T3 đang ngồi uống rượu bia với nhau. lúc này, bị cáo L1 cầm cái ghế gỗ ném về phía bị cáo Q, nhưng không trúng ai rồi cả 02 bên lao vào đánh nhau hỗn loạn; trong lúc đuổi đánh bị cáo Q, do bị cáo L1 nhìn thấy anh L2 bị thương nằm dưới đất nên chạy đến để đỡ anh L2 đứng lên; lúc bị cáo L1 vừa mới đến gần chỗ anh L2, bị cáo T1 liền dùng cây xẻng cán bằng gỗ dài 120cm, lưỡi bằng kim loại dài 39cm đánh nhưng không trúng và làm cho cây xẻng rơi xuống đất. Khi đó, bị cáo L1 nhặt cây xẻng lên và cầm 02 tay đánh 01 cái trúng vào vùng mặt của bị cáo T1 gây thương tích. Cùng lúc này, bị cáo Q cầm con dao tự chế (lưỡi bằng kim loại màu đen, dài 39cm, bản rộng 07cm) lao đến chém 01 nhát trúng vào vùng khuỷu tay trái của L1 gây thương tích; còn bị cáo Đ1 dùng dao tự chế (tương tự dao của bị cáo Q) chém 02 nhát trúng vào vùng cẳng tay trái của anh P gây thương tích; riêng anh L2 thì bị chém 02 nhát trúng vào vùng trán trái gây thương tích, nhưng không rõ ai là người trực tiếp gây ra. Riêng bị cáo Nguyễn Hữu L1 khai: bị cáo thừa nhận lời khai trên của các bị cáo Q, Đ1, T1, N1 và Nguyễn là đúng; đồng thời, lúc nói chuyện qua điện thoại với bị cáo Q thì giữa bị cáo với bị cáo Q có xảy ra mâu thuẫn trước; đến lúc thấy nhóm của bị cáo Q cầm hung khí xông vào phòng trọ của bị cáo nên bị cáo mới dùng cái ghế ném vào người bị cáo Q, nhưng không trúng ai; tuy nhiên, do lúc bị cáo đuổi đánh bị cáo Q nhìn thấy anh L2 bị thương nằm dưới đất nên chạy đến để đỡ anh L2 đứng lên, nhưng bị cáo vừa mới đến gần chỗ anh L2 thì bị cáo T1 liền dùng cây xẻng đánh bị cáo nhưng không trúng và làm cho cây xẻng rơi xuống đất; thấy vậy, bị cáo nhặt cây xẻng lên cầm 02 tay đánh 01 cái trúng vào vùng mặt của bị cáo T1 gây thương tích; riêng các anh Nguyễn Hữu P, Nguyễn Hữu L2, Nguyễn Hữu G và Lê Chí T3 thì tuy cũng có mặt lúc đó, nhưng bị cáo thấy những người này không có đánh trúng ai, còn bị cáo không có kêu rủ ai hay ai kêu rủ bị cáo đánh lại nhóm người bị cáo Q nên nay các bị cáo Q, Đ1, T1, N1 và Nguyễn thừa N3 đã cùng nhau thống nhất ý chí thực hiện hành vi phạm tội dùng dao tự chế, gậy 03 khúc, ống sắt, xẻng đánh gây thương tích cho bị cáo L1 29%, anh P 04% và anh L2 03%; riêng bị cáo L1 thì độc lập dùng cây xẻng đánh gây thương tích cho bị cáo T1 là 28% đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Đồng thời, không có ý kiến gì về các kết luận giám định thương tích và việc giải quyết vật chứng; riêng về trách nhiệm dân sự: do sau khi bị cáo Q bồi thường thiệt hại xong cho bị cáo L1 cùng với các anh P và L2 được 60.000.000 đồng thì bị cáo L1 trích ra 52.000.000 đồng bồi thường thiệt hại xong cho bị cáo T1 nên nay các bị cáo cũng không có ý kiến.

Bị hại anh Nguyễn Hữu P thừa nhận toàn bộ lời khai trên của các bị cáo là đúng. Do sau khi sự việc xảy ra, phía bị cáo Q đã bồi thường thiệt hại chung cho anh, bị cáo L1 và anh L2 với tổng số tiền là 60.000.000 đồng (bị cáo L1 có trích lại 52.000.000 đồng bồi thường thiệt hại cho bị cáo T1) nên nay anh không còn yêu cầu gì thêm. Còn về trách nhiệm hình sự, anh xin giảm nhẹ mức hình phạt cho cả nhóm bị cáo Q; còn cả nhóm bị cáo Q xin giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo L1.

Tại Cáo trạng số: 230/CT-VKS, ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Đinh Văn Quí, Nguyễn Ngọc Đ, Bùi Hữu T1, Bùi Hữu N1, Thái Văn N2 và Nguyễn Hữu L1 ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về “Tội cố ý gây thương tích” cùng theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận có ý kiến: các bị cáo Đinh Văn Q, Nguyễn Ngọc Đ, Bùi Hữu T1, Bùi Hữu N1, Thái Văn N2 đã cùng nhau thống nhất ý chí thực hiện hành vi “Dùng hung khí nguy hiểm” gây ra thương tích cho bị cáo Nguyễn Hữu L1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể 29%, anh Nguyễn Hữu P 04% và anh Nguyễn Hữu L2 03%; riêng bị cáo Nguyễn Hữu L1, đã độc lập thực hiện hành vi “Dùng hung khí nguy hiểm” gây ra thương tích cho bị cáo Bùi Hữu T1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể 28% là nguy hiểm cho xã hội nên cần phải xử các bị cáo với mức án thật nghiêm và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; riêng các bị cáo Q và L1 đã bồi thường thiệt hại xong cho bị hại, nghĩ nên xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu. Do đó, giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 58 và 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Q với mức án từ 04 năm đến 05 năm tù. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 58 và 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt các bị cáo T1 và Đ với mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 58 và 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt các bị cáo N1 và N2 với mức án từ 03 năm đến 04 năm tù. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo L1 với mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù cùng về “Tội cố ý gây thương tích”. Còn về trách nhiệm dân sự, do các bên đã tự thỏa thuận giải quyết xong và không còn yêu cầu gì thêm nên không có ý kiến. Riêng về vật chứng vật chứng thì đề nghị tịch thu tiêu hủy gồm: 01 cây xẻng dài 120cm, có phần lưỡi bằng kim loại dài 39cm; 01 ống sắt vuông dài 74cm, bề rộng 3cm; 01 ống sắt vuông dài 100cm, bề rộng 3cm; 01 ống sắt vuông dài 160cm, bề rộng 3cm, một đầu có hàn đoạn ống sắt vuông dài 13cm; 02 cây gậy ba khúc bằng kim loại; 01 bình xịt hơi cay; 01 cái ghế nhựa màu xanh và 01 con dao kim loại màu đen.

Các bị cáo đều không ai tranh luận và bào chữa gì về hành vi đã bị truy tố, còn lời nói sau cùng thì xin giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra-Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo và các bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của các bị cáo Đinh Văn Q, Nguyễn Ngọc Đ, Bùi Hữu T1, Bùi Hữu N1, Thái Văn N2 và Nguyễn Hữu L1 tại phiên tòa hôm nay cho thấy: vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 10/5/2020, các bị cáo Q, Đ, T1, N1 và N2 đã cùng nhau thống nhất ý chí thực hiện hành vi làm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho bị cáo Nguyễn Hữu L1, anh Nguyễn Hữu P và anh Nguyễn Hữu L2; riêng bị cáo Nguyễn Hữu L1, đã độc lập thực hiện hành vi làm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho bị cáo Bùi Hữu T1 cùng tại trước nhà số A, đường H, phường A, quận B.
    • *Theo Bản kết luận Giám định Pháp y về Thương tích số: 805/TgT.20, ngày 28/8/2020 của Trung tâm P1-Sở Y tế Thành phố H, kết luận mức độ tổn hại sức khỏe do thương tích gây nên cho bị cáo Bùi Hữu T1 như sau: “chấn thương vùng mặt gây rách đứt da, gẫy xương mũi, thành trong ổ mắt trái, xoang trán và xoang hàm đã được điều trị chỉnh hình xương xoang, khâu vết thương, hiện còn một sẹo vùng đầu trong mày trái kích thước 6,5x0,1cm, hình ảnh gãy cũ trên phim chụp cắt lớp vi tính. Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 28%. Chấn thương trên do vật tày, tày có cạnh tác động gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng đương sự”.
    • *Theo Bản kết luận Giám định Pháp y về Thương tích số: 407/TgT.21, ngày 14/5/2021 của Trung tâm P1-Sở Y tế Thành phố H, kết luận mức độ tổn hại sức khỏe do thương tích gây nên cho anh Nguyễn Hữu P như sau: “hai vết thương phần mềm vùng mặt sau trong 1/3 giữa cẳng tay trái gây đứt da, đứt gân gấp đã được điều trị khâu gân, hiện còn: một sẹo chém kích thước 6x (0,1-1)cm, có tỷ lệ 2,5%; một sẹo chém kích thước 3,7x(0,1-0,5)cm, có tỷ lệ 1,5%; một sẹo mổ dọc nổi hai sẹo chém kích thước 2,7 (0,2-0,4)cm; tình trạng ổn định. Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 04%. Hai vết thương trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc nhọn tác động gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng”.
    • *Theo Bản kết luận Giám định Pháp y về Thương tích số: 566/TgT.21, ngày 28/6/2021 của Trung tâm P1-Sở Y tế Thành phố H, kết luận mức độ tổn hại sức khỏe do thương tích gây nên cho bị cáo Nguyễn Hữu L1 như sau: “vết thương vùng khuỷu tay trái gây đứt da, đứt gân gấp, đứt thần kinh và động mạch trụ, mẻ đầu trên xương trụ trái đã được điều trị khâu gân, thần kinh, mạch máu, da hiện còn: một sẹo chém trùng sẹo mổ kích thước 13,2x(0,1-0,4)cm; tổn thương sợi trục dây thần kinh trụ trái trên điện cơ đồ; hình ảnh mẻ đầu trên xương trụ trái trên phim Xquang; khám: bàn tay vuốt trụ, teo cơ mô út, teo cơ gian cốt, giảm cảm giác hoàn toàn ngón V, bờ trụ ngón IV, bờ trụ bàn tay trái. Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 29%. Vết thương trên do vật sắc hoặc vật sắc nhọn tác động gây ra, gây nguy hiểm đến tính mạng đương sự”.
    • *Theo Bản kết luận Giám định Pháp y về Thương tích số: 649/TgT.21, ngày 13/8/2021 của Trung tâm P1-Sở Y tế Thành phố H, kết luận mức độ tổn hại sức khỏe do thương tích gây nên cho anh Nguyễn Hữu L2 như sau: “chấn thương vùng chẩm tay trái gây sưng nề mô mềm đã được điều trị, hiện không còn dấu vết thương tích, tình trạng ổn định, nghĩ nhiều do vật tày tác động. Chấn thương vùng trán trái đã được điều trị khâu vết thương, hiện còn một sẹo kích thước 3,4x(0,05-0,1)cm, tình trạng ổn định, có tỉ lệ 03%. Thương tích do vật tày có cạnh, vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra. Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 03%; không nguy hiểm tính mạng đương sự”.
  3. [3] Xét trong vụ án này, các bị cáo Q, Đ, T1, N1 và N2 đã có hành vi sử dụng 01 cây xẻng dài 120cm, có phần lưỡi bằng kim loại dài 39cm; 01 ống sắt vuông dài 74cm, bề rộng 3cm; 01 ống sắt vuông dài 100cm, bề rộng 3cm; 01 ống sắt vuông dài 160cm, đường kính 3cm; 02 cây gậy 03 khúc bằng kim loại là vật sắc, cứng, chắc và nhọn nên được coi là “Dùng hung khí nguy hiểm” đánh, chém trúng vào vùng khuỷu tay trái của bị cáo L1 gây thương tích 29%, trúng vào vùng cẳng tay trái của anh P gây thương tích 04% và trúng vào vùng trán trái của anh L2 gây thương tích 03%. Riêng đối với bị cáo L1, đã độc lập thực hiện hành vi sử dụng cây xẻng dài 120cm, có phần lưỡi bằng kim loại dài 39cm là vật cứng và chắc nên được coi là “Dùng hung khí nguy hiểm” đánh trúng vào vùng mặt của bị cáo T1 gây thương tích 28%. Do đó, các bị cáo Đinh Văn Q, Nguyễn Ngọc Đ, Bùi Hữu T1, Bùi Hữu N1, Thái Văn N2 và Nguyễn Hữu L1 đã cùng phạm “Tội cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.
  4. [4] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với các lời khai trước đây tại Cơ quan điều tra, lời khai của các bị hại, những người làm chứng, vật chứng thu giữ được; Biên bản, bản ảnh khám nghiệm hiện trường và thực nghiệm điều tra; các kết luận giám định thương tích; cơ chế hình thành vết thương của các bị hại...Do đó, đã đủ chứng cứ buộc tội các bị cáo và lời đề nghị của Kiểm sát viên vừa nêu trên là có cơ sở chấp nhận. Riêng đối với các anh Nguyễn Hữu P, Nguyễn Hữu L2, Nguyễn Hữu G và Lê Chí T3 thì trong quá trình điều tra đã xác định: các anh không bàn bạc hay thống nhất việc đánh nhau; không chuẩn bị hung khí hoặc không biết trước việc nhóm của bị cáo Q đến phòng trọ đánh bị cáo L1. Còn việc các anh P, L2, G và T3, tuy có cầm cây sắt lao vào đánh trả lại nhóm của bị cáo Q, nhưng đó chỉ là phản kháng tự nhiên để tự vệ khi bị nhóm của bị cáo Q dùng hung khí tấn công; trong khi đó, việc bị cáo L1 độc lập thực hiện hành vi dùng xẻng đánh gây thương tích cho bị cáo T1 là nằm ngoài ý muốn của các anh P, L2, G và T3 nên không có căn cứ để xác định các anh là đồng phạm với bị cáo L1 là có cơ sở chấp nhận. Còn đối với hành vi “Gây rối trật tự công cộng” thì: do sự việc diễn ra trong thời gian ngắn vào ban ngày, không có camera ghi lại hành vi của 02 bên và mang tính bộc phát, nhất thời; ngoài ra tại thời điểm xảy ra sự việc, cuộc sống của người dân xung quanh vẫn diễn ra bình thường và không làm ảnh hưởng gì đến ai nên không có căn cứ để xử lý các tên trên về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” là có cơ sở chấp nhận. Ngoài ra đối với các bị cáo Q, Đ, T1, N1 và N2, tuy có hành vi tàng trữ, sử dụng bình xịt hơi cay là công cụ hỗ trợ, nhưng do các bị cáo chưa ai bị xử phạt hành chính về hành vi này hay từng bị kết án về loại tội này nên hành vi hôm nay của các bị cáo chưa đủ yếu tố cấu thành “Tội tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ” hoặc “Tội sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ”, theo quy định tại Điều 306 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ chấp nhận.
  5. [5] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, không những trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Tuy trong vụ án này, các bị cáo Q, Đ, T1, N1 và Nguyễn là đồng phạm, tuy chỉ giản đơn, nhưng do trong đó: bị cáo Q với vai trò là người cầm đầu, khởi xướng và rủ rê; bị cáo T1 rủ bị cáo N2 và cung cấp toàn bộ hung khí; bị cáo Đ rủ bị cáo N1; đồng thời, các bị cáo Q, Đ và T1 trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội; còn các bị cáo N1 và Nguyễn giúp S tích cực như đã nêu trên nên cần phải xử các bị cáo với mức án thật nghiêm và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo đã gây ra theo quy định tại Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì mới để đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Riêng đối với bị cáo L1, do độc lập thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo phải tự chịu trách nhiệm về hành vi và hậu của mình đã gây ra với mức án thật nghiêm. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay: các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; 02 bị cáo Q và L1 đã tích cực bồi thường thiệt hại xong cho các bị hại; cả 06 bị cáo đều được bị hại xin giảm nhẹ mức hình phạt; riêng đối với bị cáo L1 bị tấn công trước và bị hại (đồng thời là bị cáo T1) có một phần lỗi đáng kể nên cần được xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm b (riêng đối với 02 bị cáo Q và L1), s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
  6. [6] Về trách nhiệm dân sự: Xét tại phiên tòa hôm nay, các bị hại anh Nguyễn Hữu P, L1 và T1 (đồng thời là bị cáo) có mặt đều có mặt; riêng đối với bị hại anh Nguyễn Hữu L2, tuy đã được triệu tập hợp lệ mà vẫn vắng mặt. Nhưng theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của những người có mặt thì: do sau khi bị cáo Q bồi thường thiệt hại xong cho bị cáo L1 cùng với các anh P và L2 được 60.000.000 đồng, bị cáo L1 đã trích ra 52.000.000 đồng bồi thường thiệt hại cho bị cáo T1 và 02 bên đã tự thỏa thuận giải quyết xong nên nay không xét.
  7. [7] Về vật chứng: 01 cây xẻng dài khoảng 120cm, có phần lưỡi bằng kim loại dài 39cm; 01 ống sắt vuông dài khoảng 74cm, bề rộng khoảng 3cm; 01 ống sắt vuông dài khoảng 100cm, bề rộng khoảng 3cm; 01 ống sắt vuông dài khoảng 160cm, bề rộng khoảng 3cm, một đầu có hàn đoạn ống sắt vuông dài khoảng 13cm; 02 cây gậy ba khúc bằng kim loại; 01 bình xịt hơi cay màu đỏ dài khoảng 15cm, đường kính 3,5cm; 01 cái ghế nhựa màu xanh đã hư hỏng; 01 con dao bằng kim loại màu đen, dài khoảng 39cm, bản rộng dài 7cm của các bị cáo dùng làm công cụ phạm tội nên cần tịch thu để tiêu hủy.
  8. [8] Các bị cáo Đinh Văn Q, Nguyễn Ngọc Đ, Bùi Hữu T1, Bùi Hữu N1, Thái Văn N2 và Nguyễn Hữu L1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về căn cứ điều luật và xử phạt:
    1. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17 và 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

      Xử phạt bị cáo Đinh Văn Q 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về “Tội cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày 23-11-2022.

    2. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17 và 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về “Tội cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày 16-11-2022.

    3. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17 và 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

      Xử phạt bị cáo Bùi Hữu T1 04 (bốn) năm tù về “Tội cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày 16-11-2022.

    4. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17 và 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

      Xử phạt bị cáo Bùi Hữu N1 03 (ba) năm tù về “Tội cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày 27-4-2024.

    5. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17 và 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

      Xử phạt bị cáo Thái Văn N2 03 (ba) năm tù về “Tội cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày 27-4-2024.

    6. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu L1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về “Tội cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày 02-5-2021.

  2. Về vật chứng: căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

    Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 cây xẻng dài khoảng 120cm, có phần lưỡi bằng kim loại dài 39cm; 01 ống sắt vuông dài khoảng 74cm, bề rộng khoảng 3cm; 01 ống sắt vuông dài khoảng 100cm, bề rộng khoảng 3cm; 01 ống sắt vuông dài khoảng 160cm, bề rộng khoảng 3cm, một đầu có hàn đoạn ống sắt vuông dài khoảng 13cm; 02 cây gậy ba khúc bằng kim loại; 01 bình xịt hơi cay màu đỏ dài khoảng 15cm, đường kính 3,5cm; 01 cái ghế nhựa màu xanh đã hư hỏng; 01 con dao bằng kim loại màu đen, dài khoảng 39cm, bản rộng dài 7cm.

    (Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ theo Phiếu nhập kho số: NK22/13TAM, ngày 19/10/2021)

  3. Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Các bị cáo Đinh Văn Q, Nguyễn Ngọc Đ, Bùi Hữu T1, Bùi Hữu N1, Thái Văn N2 và Nguyễn Hữu L1 mỗi người phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào các điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

    Các bị cáo Đinh Văn Q, Nguyễn Ngọc Đ, Bùi Hữu T1, Bùi Hữu N1, Thái Văn N2 và Nguyễn Hữu L1; bị hại anh Nguyễn Hữu P (gồm cả các bị cáo T1 và L1) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại anh Nguyễn Hữu L2 vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - VKSND Q.BT;
  • - CQĐT-CA Q.BT;
  • - Nhà tạm giữ-CA Q.BT;
  • - Chi cục THA DS Q.BT;
  • - Trại tạm giam;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Người tham gia tố tụng khác (nếu có);
  • - Lưu hs, Vp.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Văn Ái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 286/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 286/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Văn Q và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger