TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 286/2024/DS-PT
Ngày: 13 - 5 - 2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, kiện đòi tài sản là quyền sử
dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trí Tuấn
Các thẩm phán: Ông Lê Thành Long
Ông Hoàng Thanh Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Hiến - Kiểm sát viên.
Ngày các ngày 06 và 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 695/2023/DS –PT ngày 21 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp chuyển nhượng quyền sử dụng đất, kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 09/2023/DS –ST ngày 28/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 621/2024/QĐXX-ST ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Vy V, sinh năm: 1967; cư trú tại số C, đường H, Phường F, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt)
Địa chỉ liên hệ: số F, đường T, phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Mai S, sinh năm: 1998; địa chỉ liên lạc: Số A, đường T, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Phương Đại N, sinh năm: 1983, địa chỉ liên hệ số A, đường T, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, là Luật sư của Công ty L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh L. (có mặt)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Còn L, sinh năm 1937; cư trú tại số F, đường T, Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Hoàng Minh H, bà Nguyễn Diệu P; địa chỉ: số F, đường T, Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. (ông H có mặt, bà Diệu P vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Lê Cao T, sinh năm: 1972, địa chỉ liên hệ số A, đường N, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, là Luật sư của Văn phòng L3 thuộc Đoàn luật sư tỉnh L. (có mặt)
· Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Hoàng D, sinh năm: 1962; cư trú tại số F, đường T, Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Ông Nguyễn Hoàng T1, sinh năm: 1963; cư trú tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)
- Bà Nguyễn Diệu P, sinh năm: 1966; cư trú tại số F, đường T, Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bà Nguyễn Mộng T2, sinh năm: 1969; cư trú tại số F, đường T, Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bà Nguyễn Diệu T3, sinh năm: 1970; cư trú tại số F, đường T, Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bà Nguyễn Ngọc Huyền T4, sinh năm: 1975; cư trú tại số F, đường T, Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. (có mặt)
- Ủy ban nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ số B đường T, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện hợp pháp: Ông Tôn Thiện S1 - Chủ tịch Ủy ban nhân dân.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Ngọc T5 – Phó chủ tịch UBND (có đơn xin vắng mặt) - Ông Chế Văn P1, sinh năm: 1959. (vắng mặt)
- Anh Chế Nguyên K, sinh năm: 1992. (vắng mặt)
- Chị Chế Như Q, sinh năm: 1996. (vắng mặt)
Cùng cư trú tại số F, đường T, Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người kháng cáo: Nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Vy V và bị đơn – bà Nguyễn Thị Còn L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm, lời trình bày của nguyên đơn Nguyễn Thị Vy V trong
đơn khởi kiện, tờ tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:
Ngày 30/3/2001, vợ chồng ông P1, bà V có nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Ầ, bà L một phần diện tích Quyền sử dụng đất thuộc một phần thửa 49, 50, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại số F, đường T, Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng theo giấy sang nhượng đất (viết tay) ngày 30/3/2001. Sau khi nhận chuyển nhượng thì bà V đã tiến hành san mặt bằng, xây nhà ở kiên cố trên đất và sử dụng ổn định từ đó đến nay. Tuy nhiên, khi bà V làm thủ tục để đứng tên trên Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì toàn bộ diện tích đất bà V đã nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông A, bà L đã được Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AM503986 cho vợ chồng ông A, bà L.
Do đó bà V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- + Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất (giấy sang nhượng đất) ngày 30/3/2001 giữa vợ chồng ông Nguyễn Ngọc A1, bà Nguyễn Thị Còn L và vợ chồng bà Nguyễn Thị Vy V, ông Chế Văn P1. Công nhận phần diện tích đất và tài sản gắn liền với đất thuộc một phần thửa 49, 50, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại số F, đường T, Phường I, thành phố Đ thuộc quyền sử dụng, sở hữu của bà V theo hiện trạng gia đình bà V đang sử dụng.
- + Yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AM503986 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 06/6/2008 mang tên ông Nguyễn Ngọc A1, bà Nguyễn Thị Còn L.
- Theo nội dung đơn phản tố của bà Nguyễn Thị Còn L, lời trình bày của bà Nguyễn Diệu P và ánh Nguyễn Hoàng Huy M, người đại diện theo ủy quyền của bà L trình bày, thì: Ngày 30/3/2001 vợ chồng ông A1, bà L có lập giấy tay chuyển nhượng cho vợ chồng ông, bà V một phần diện tích Quyền sử dụng đất theo nội dung “Nam giáp đường T (nay là hẻm H, đường N, Phường I, thành phố Đ), Đ giáp đường hẻm ông Dương Tam K1 và Bắc giáp đất gia đình ông A1, bà L, chiều ngang 12m, chiếu dọc 12m (theo giấy sang nhượng đất viết tay). Ban đầu vợ chồng ông P1, bà V xây nhà do khó khăn về đường đi nên có mượn đất của gia đình vợ chồng ông A1, bà L làm đường đi, sau đó cơi nới thêm gian bếp, diện tích gia đình bà V sử dụng nhiều hơn diện tích đất nhận chuyển nhượng của gia đình vợ chồng ông A1, bà L. Vào khoảng cuối năm 2020 bà V đặt vấn đề tách Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất với gia đình bà L, bà V thống nhất nếu đo đạc dư phần đất gia đình bà L đã chuyển nhượng thì sẽ thanh toán lại giá trị đất nhưng sau đó không thực hiện.
Đối với phần diện tích đất bà V thỏa thuận mượn gia đình bà L để làm đường đi, hiện nay là phần diện tích đất đang tranh chấp, khi mượn chỉ nói bằng miệng không có giấy tờ gì.
Đối với phần diện tích thỏa thuận chuyển nhượng theo giấy viết tay ngày 30/3/2001 thì các bên thỏa thuận diện tích chiều ngang 12m, chiều dọc 12m, có
hiện trạng rõ ràng. Thời điểm bà V làm nhà phần gian bếp thì bà L có ý kiến về việc bà V xây phần bếp trên diện tích đất của bà L nhưng gia đình bà V nói sau này gia đình bà L cần thì trả lại, hai bên thỏa thuận bằng miệng, không có văn bản nào.
Đối với họa đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất do Công ty trách nhiệm hữu hạn A thực hiện ngày 24/01/2022 thì trên họa đồ ký hiệu 02 là 6m², ký hiệu 03 là 6,2m² thuộc quyền sử dụng của gia đình bà L, không phải của gia đình bà V. Tuy nhiên diện tích đất thuộc ký hiệu 02, 03 hiện nay bà V cho đường ống nước và mái tôn che lên. Gia đình bà L thống nhất cho bà V sử dụng tạm, nếu sau này gia đình bà L có nhu cầu sử dụng thì bà V phải tháo dỡ ông nước và mái tôn để trả lại hiện trạng sử dụng cho gia đình bà L.
Đối với hiện trạng đất ký hiệu số 01 diện tích là 226,2m² và một phần diện tích sát đường hẻm đi chung vào nhà ông Dương Tam K1 là 4,6m² bà V không sử dụng mà để làm đường đi, tổng diện tích là 230,8m², gia đình bà L thống nhất trừ phần diện tích đã chuyển nhượng cho bà V chiều ngang 12m, chiều dài 12m, tổng diện tích là 144m². Như vậy diện tích còn lại là 86,8m² bà V sử dụng dư so với diện tích đất nhận chuyển nhượng của gia đình bà L.
Do đó chúng tôi đưa ra phương án thỏa thuận đối với bà V: Diện tích 86,8m² nói trên, nếu bà V sử dụng hiện trạng đất thì thanh toán lại cho gia đình bà L theo giá thị trường hiện nay là 40.000.000đ/m² x 86,8m² = 3.472.000.000đ. Trong trường hợp bà V không thanh toán giá trị thì đề nghị trả lại đất cho gia đình bà L. Nếu bà V không thực hiện hai phương án trên thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đối với Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AM503986 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp cho vợ chồng ông Ầ1, bà L ngày 06/6/2008 thì trong đó có phần diện tích đất 144m² đã chuyển nhượng cho vợ chồng bà V, ông P1. Gia đình bà L đồng ý hủy một phần Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đối với diện tích 144m² nói trên.
- Theo đại diện Ủy ban nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng thì: Trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số H01195 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp cho vợ chồng ông A1, bà L ngày 06/6/2008. Hộ ông Nguyễn Ngọc Â1 được Ủy ban nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số T412126 ngày 31/12/2001, thuộc thửa số 50 (diện tích 578m²), thửa số 49 (diện tích 564m²), tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Ngày 17/3/2003, vợ chồng ông A1, bà L được Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở số 4201090490 với nội dung như sau: “nhà ở tổng diện tích sử dụng 83,25m², diện tích xây dựng 111m², kết cấu nền xi măng, tường ván, nền gạch, cột gạch và gỗ, sàn, mái tôn, số tầng 01. Về đất ở thửa đất số 50, tờ bản đồ số 14, diện tích 300m², hình thức sử dụng riêng: riêng 300m²”. Đồng thời Phòng nhà đất - địa chính điều chỉnh Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số T412126 với nội dung “...điều chỉnh diện tích đất nông nghiệp của
thửa 49, 50, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại phường I, thành phố Đ là 804,90m² (phần diện tích còn lại đã chuyển sang đất ở Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 4201090490)”.
Ngày 20/02/2008 vợ chồng ông Â1, bà L lập Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất cho bà Đoàn Thị N1 thuộc một phần thửa 49, 50 tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, hợp đồng chuyển nhượng được Ủy ban nhân dân Phường I, thành phố Đ chứng thực số 42, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD. Ngày 20/02/2008 ông A1 làm đơn xin tách thửa, hợp thửa đất thuộc một phần thửa 49, 50 tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng với lý do ông Â1 xin chuyển nhượng một phần diện tích thuộc thửa 49, 50 cho bà N1, vợ chồng ông Ἆ1, bà L, bà N1 làm đơn xin cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất. Quá trình sử dụng đất ông A1 có đơn đồng ý chuyển dịch đường đi với nội dung “...Trong quá trình làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho bà N1 thuộc một phần thửa 49, 50, Phường I, thành phố Đ hiện hữu lối đi của gia đình tôi nằm về phía Tây thửa đất. Nay tôi đồng ý dịch lối đi về ở giữa làm lối đi chung để gia đình bà N1 cùng đi...”. Đồng thời, hộ gia đình ông Â1 gồm các ông bà Nguyễn Hoàng D, Nguyễn Diệu P, Nguyễn Mộng T2, Nguyễn Diệu T3, Nguyễn Ngọc Huyền T4, Nguyễn Hoàng T1 đồng ý lập giấy ủy quyền để vợ chồng ông Ầ1, bà L đứng tên ký Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất liên quan đến 02 Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số T412126 và Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở số 4201090490 được Ủy ban nhân dân phường I, thành phố Đ xác nhận ngày 01/4/2008.
Ngày 06/6/2008, Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp 02 Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AM503986 cho vợ chồng ông Â1, bà L diện tích 426m² (đất ở 129,4m², 296,9m² đất nông nghiệp), thuộc thửa 49, 50 tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng và Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AM503987 cho bà Đoàn Thị N1 diện tích 678,6m² (đất ở 170,6m² và đất trồng cây lâu năm 508m²), thuộc thửa 203 (gốc 49, 50 tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng). Nay các bên tranh chấp đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 09/2023/DS –ST ngày 28/02/2023 Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng tuyên xử:
- - Căn cứ khoản 2, 3 Điều 26, Điều 34, các Điều 157, 158, 165, 166 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ các Điều 130, 133, 691, 705, 707, 708, 709, 710, 711, 712, 713 Bộ luật Dân sự năm 2005;
- - Căn cứ Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 188, 203 Luật Đất đai năm 2003;
- - Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Vy V về việc “Tranh chấp yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất” với bà Nguyễn Thị Còn L.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Còn L về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với bà Nguyễn Thị Vy V.
Tuyên xử:
- Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất (giấy viết tay sang nhượng đất) ngày 30/3/2001 giữa vợ chồng ông Nguyễn Ngọc A1, bà Nguyễn Thị Còn L và vợ chồng ông Chế Văn P1, bà Nguyễn Thị Vy V là có hiệu lực pháp luật.
- Công nhận căn nhà diện tích 91 m² cùng các công trình phụ có diện tích 10 m² tọa lạc trên diện tích đất 226,2m² (phần ký hiện số 1) và phần đất có diện tích 12,2 m² (phần ký hiện số 2, 3) thuộc một phần thửa số 49, 50, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại đường T, phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng thuộc quyền sở hữu, sử dụng của vợ chồng ông Chế Văn P1 và bà Nguyễn Thị Vy V.
Bà Nguyễn Thị Còn L và vợ chồng ông Chế Văn P1, bà Nguyễn Thị Vy V được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục đăng ký kê khai, điều chỉnh diện tích đất theo thực tế, cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất theo quy định của pháp luật.
Tạm giao phần đất thuộc chỉ giới hẻm có diện tích 33,6 m² cho vợ chồng ông Chế Văn P1, bà Nguyễn Thị Vy V quản lý, sử dụng; khi nhà nước có chủ trương thu hồi thì thực hiện theo quy định của Luật đất đai.
(Có họa đồ đo đạc hiện trạng thửa đất do Công ty trách nhiệm hữu hạn A thực hiện ngày 08/12/2021 kèm theo).
- Hủy một phần Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AM503986 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 06/6/2008 mang tên ông Nguyễn Ngọc A1, bà Nguyễn Thị Còn L đối với đất có diện tích 243m² (trong đó có 238,4m² gia đình bà V đang quản lý sử dụng, 4,6m² đường hẻm) thuộc một phần thửa 49, 50, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại số F, đường T, Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Ngày 13/3/2023, bà Nguyễn Thị Vy V có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm đề nghị không buộc gia đình bà Vy V cùng đứng tên đồng sở hữu đối với diện tích đất đang tranh chấp với bị đơn.
Ngày 04/3/2023, bà Nguyễn Thị Còn L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu nguyên đơn trả lại phần đất đã lấn chiếm 94,4 m² thuộc một phần thửa đất 49, 50 tờ bản đồ số 14, thành phố Đ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày nguyên đơn đã sử dụng phần đất ổn định kể từ năm 2001, theo quy định tại Quyết định 08/2008/QĐ – UBND ngày 14/3/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh L phần đất trên được hình thành trước khi có quy định về tách thửa nên đủ điều kiện để được tách thửa.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận sửa hoặc hủy bản án sơ thẩm do bản án đã xét xử vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- - Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử và Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- - Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn thấy rằng các bên đều thừa nhận có thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, từ khi chuyển nhượng nguyên đơn xây dựng cho đến nay không thay đổi gì, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn cả phần đất đã chuyển nhượng là không chính xác. Bà L cho rằng nguyên đơn có mượn thêm đất cơi nới nhưng không có tài liệu gì chứng minh. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Về kháng cáo của nguyên đơn, diện tích đất chuyển nhượng của ông Â, bà L cho vợ chồng ông P1, bà V là loại đất trồng cây lâu năm. Theo khoản 4 Điều 4 Quyết định số 40/QĐ - UBND ngày 01/11/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh L diện tích đất ông bà được công nhận không đủ điều kiện để tách thửa. Bản án sơ thẩm xét xử là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Từ những căn cứ trên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Vy V và bị đơn bà Nguyễn Thị Còn L nộp trong hạn luật định, hợp lệ về hình thức nên được đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị Vy V và bà Nguyễn Thị C Liên vắng mặt, có người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng T1 và bà Nguyễn Ngọc Huyền T4 có mặt; Ông Nguyễn Hoàng D, bà Nguyễn Diệu P, bà Nguyễn Mộng T2, Nguyễn Diệu T3 và đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân thành phố Đ có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Chế Văn P1, anh Chế Nguyên K và chị Chế Như Q được triệu tập nhưng vắng mặt không lý do và không có kháng cáo. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.
[2] Về nội dung: Theo Giấy chứng nhận chuyển nhượng bằng hình thức viết tay ngày 30/3/2001, vợ chồng bà Nguyễn Thị Vy V và ông Chế Văn P1 có nhận chuyển nhượng lô đất cho chiều ngang 12m, chiều dài 2m, tổng diện tích 144 m² thuộc một phần thửa đất 49, 50 tờ bản đồ số 14, tọa lạc số F, đường T, phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Bà V đã xây nhà, sử dụng ổn định trên diện tích thực tế 226,2 m² từ trước đến nay. Nay bà Nguyễn Thị Vy V yêu cầu được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích bà đang sử dụng thực tế và hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM503986 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng đã cấp cho vợ chồng ông Â1, bà L. Yêu cầu phản tố, bà Nguyễn Thị Còn L cho rằng bà V đang sử dụng thực tế có phần diện tích dư 86,8 m² so với diện tích 144 m² các bên đã thỏa thuận chuyển nhượng nên yêu cầu bà V thanh toán lại giá trị phần đất gia đình bà V đang sử dụng dư theo giá thị trường hiện nay hoặc trả lại phần diện tích 86,8 m² cho gia đình bà Liên tiếp t sử dụng. Đồng ý hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM503986 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp cho vợ chồng bà đối với phần diện tích 144 m² đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông P1, bà V.
[2.1] Xét kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn, Hội đồng xét xử thấy:
[2.1.1] Đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 30/3/2001 (giấy viết tay) giữa vợ chồng ông Nguyễn Ngọc A1, bà Nguyễn Thị Còn L và vợ chồng bà Nguyễn Thị Vy V, ông Chế Văn P1: Nguồn gốc lô đất chuyển nhượng là của vợ chồng ông A1, bà L được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM503986 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 06/6/2008 với diện tích 426,3 m² thuộc một phần thửa 49, 50 tờ bản đồ số 14, tọa lạc đường T, phường I, thành phố Đ, Lâm Đồng. Theo “Giấy sang nhượng đất” ghi ngày 30/3/2001 thể hiện nội dung “ông Nguyễn Ngọc C1, bà Nguyễn Thị Còn L chuyển nhượng diện tích đất có chiều ngang 12m, chiều dọc là 12m với tứ cận lô đất nam giáp đường T, tây nằm trong khuôn viên của ông Â1, Đông giáp đường hẻm ông Dương Tam K1, Bắc giáp đất ông Âl” cho ông Chế Văn P1, bà Nguyễn Thị Vy V. Như vậy, việc chuyển nhượng đất giữa các bên có xác định tứ cận cụ thể. Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm các bên đều thừa nhận lập hợp đồng viết tay để chuyển nhượng đối với diện tích 12 m x 12 m = 144 m². Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 30/3/2001 giữa vợ chồng ông A1, bà L và vợ chồng bà V, ông P1 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[2.1.2] Đối với diện tích chuyển nhượng: Theo nội dung Giấy chuyển nhượng bà L cung cấp thể hiện thỏa thuận như sau: “Tôi tên là Nguyễn Thị Vy V, sinh năm: 1967 và chồng là Chế Văn P1, sinh năm 1959, có mua mảnh đất của ông Nguyễn Ngọc Â1, sinh năm 1930 và bà Nguyễn Thị C Liên vào tháng 3 năm 2001, diện tích 12m x 12m = 144m². Khi đó đạc trên diện tích thực tế nếu dư ra hoặc thiếu sẽ thỏa thuận”. Theo thực tế, họa đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất do Công ty Trách nhiệm hữu hạn A thực hiện ngày 24/01/2022 thì hiện nay hình thể lô đất có tứ cận không vuông vức, đặc biệt là phần đông giáp đường đi. Thực tế bà V đang sử dụng có diện tích là 226,2 m², tăng 82,2 m² so với thỏa thuận chuyển nhượng ban đầu. Tuy nhiên, kể từ khi nhận chuyển nhượng năm 2001 đến nay, gia đình bà V đã xây nhà vẫn sử dụng theo hiện trạng, ranh giới giữa các bên rõ ràng, không thay đổi, tại ranh giới giữa đất bà V đang sử dụng và nhà bà L có hàng rào bê tông và sắt kiên cố.
Ngoài ra, mặc dù thời điểm giao dịch các bên có thỏa thuận diện tích đất cụ thể. Tuy nhiên, quá trình sử dụng đất có sự biến động, đặc biệt phần đất phía Đông giáp đường nội bộ; điều này phù hợp với lời trình bày của nguyên đơn và những người làm chứng ông Nguyễn Văn T6, ông Nguyễn Văn Đ1, ông Lương Bá C2 và bà Lê Thị L1 xác định khi nhận chuyển nhượng là đất để hoang, địa hình không bằng phẳng nên bà V phải cải tạo lại mặt bằng để làm nhà trên đất. Các bên đều thừa nhận hiện căn nhà và các công trình phụ trên đất được xây dựng từ khi nhận chuyển nhượng đến nay không thay đổi gì. Quá trình gia đình bà V xây dựng, sử dụng thì gia đình bà L không có ý kiến gì xem như mặc nhiên thừa nhận gia đình bà V sử dụng đúng phần đất của mình. Do đó, có cơ sở xác định ranh giới giữa hai nhà khi thỏa thuận là ranh giới hiện nay.
Bà Còn L cho rằng có cho bà V mượn đất để cơ nới làm đường đi và nhà bếp nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Đối với yêu cầu của bị đơn đề nghị nguyên đơn trả lại phần đất chênh lệch theo giá thị trường là không có căn cứ và công nhận phần đất theo diện tích thực tế của nguyên đơn đang sử dụng theo nhận định của Tòa án sơ thẩm là có cơ sở.
[2.1.3] Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM503986 cấp ngày 06/6/2008 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng đã cấp cho vợ chồng ông Ầ1, bà L thấy rằng: Tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình ông P1, bà V đã quản lý, sử dụng và sinh sống trên một phần diện tích thuộc thửa đất nói trên. Ủy ban nhân dân thành phố Đ khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã không tiến hành xác minh ai là người đang quản lý, sử dụng thực tế trên thửa đất mà cấp Giấy chứng nhận toàn bộ diện tích đất trên cho vợ chồng ông A1, bà L là không đúng đối tượng nên hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM503986 là có căn cứ. Tòa án sơ thẩm chấp không nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà L là có căn cứ, đúng quy định.
[2.2] Đối với yêu cầu được tách thửa đối với diện tích được công nhận của nguyên đơn: Theo Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất số 4201090490 ngày 17/3/2003 của Ủy ban nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm
Đồng công nhận vợ chồng ông Â, bà L có quyền sử dụng 300 m² đất ở. Sau khi chuyển nhượng cho bà Đoàn Ngọc N2 thì diện tích đất còn lại của vợ chồng ông Â, bà L là 129,4 m². Giấy sang nhượng ngày 30/3/2001 giữa vợ chồng ông Â, bà L và ông P1, bà V không thỏa thuận về loại đất chuyển nhượng nên diện tích đất mà gia đình bà V chuyển nhượng là loại đất trồng cây lâu năm. Theo Khoản 4 Điều 4 Quyết định số 40/QĐ – UBND ngày 01/11/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh L quy định “Đối với thửa đất nông nghiệp thì diện tích tối thiểu tách thửa là 500 m² tại khu vực đô thị; 1.000 m² tại khu vực nông thôn”. Do đó diện tích của vợ chồng ông P1, bà V không đủ điều kiện để tách thửa theo quy định.
Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định bà L và vợ chồng ông P1, bà V được liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục đăng ký kê khai, điều chỉnh diện tích đất theo thực tế, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản trên đất; Ông P1, bà V được đứng tên đồng sở hữu theo quy định của pháp luật là có căn cứ, đúng quy định.
[3] Từ những căn cứ trên thấy rằng, Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bác yêu cầu phản tố của bị đơn là đã xem xét đầy đủ chứng cứ, tài liệu, đúng quy định. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và bị đơn cùng kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới để chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo.
[4] Án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bị đơn do là người cao tuổi.
[5] Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị cóa hiệu lực kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
[6] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, giữ quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Vy V và bà Nguyễn Thị Còn L;
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2023/DS –ST ngày 28/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, với nội dung:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Vy V về việc “Tranh chấp yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất” với bà Nguyễn Thị Còn L.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Còn L về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với bà Nguyễn Thị Vy V.
- Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất (giấy viết tay sang nhượng đất) ngày 30/3/2001 giữa vợ chồng ông Nguyễn Ngọc A1, bà Nguyễn Thị Còn L và vợ chồng ông Chế Văn P1, bà Nguyễn Thị Vy V là có hiệu lực pháp luật.
- Công nhận căn nhà diện tích 91 m² cùng các công trình phụ có diện tích 10 m² tọa lạc trên diện tích đất 226,2m² (phần ký hiện số 1) và phần đất có diện tích 12,2 m² (phần ký hiện số 2, 3) thuộc một phần thửa số 49, 50, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại đường T, phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng thuộc quyền sở hữu, sử dụng của vợ chồng ông Chế Văn P1 và bà Nguyễn Thị Vy V.
Bà Nguyễn Thị Còn L và vợ chồng ông Chế Văn P1, bà Nguyễn Thị Vy V được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục đăng ký kê khai, điều chỉnh diện tích đất theo thực tế, cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất theo quy định của pháp luật.
Tạm giao phần đất thuộc chỉ giới hẻm có diện tích 33,6 m² cho vợ chồng ông Chế Văn P1, bà Nguyễn Thị Vy V quản lý, sử dụng; khi nhà nước có chủ trương thu hồi thì thực hiện theo quy định của Luật đất đai.
(Có họa đồ đo đạc hiện trạng thửa đất do Công ty trách nhiệm hữu hạn A thực hiện ngày 08/12/2021 kèm theo).
- Hủy một phần Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AM503986 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 06/6/2008 mang tên ông Nguyễn Ngọc A1, bà Nguyễn Thị Còn L đối với đất có diện tích 243m² (trong đó có 238,4m² gia đình bà V đang quản lý sử dụng, 4,6m² đường hẻm) thuộc một phần thửa 49, 50, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại số F, đường T, Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Về chi phí tố tụng và án phí sơ thẩm được thực hiện theo quyết định của bản án sơ thẩm.
Án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị Còn L, bà Nguyễn Thi Vy V1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào biên lai thu số 0014156 ngày 30/3/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng. Đương sự đã thi hành xong.
Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Trí Tuấn |
Bản án số 286/2024/DS-PT ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 286/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Vy V kiện Bà Nguyễn Thị Còn L về việc “Tranh chấp chuyển nhượng quyền sử dụng đất, kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Tuyên xử Tuyên xử không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Vy V và bà Nguyễn Thị Còn L; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2023/DS –ST ngày 28/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng
