Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 286/2023/HSST

Ngày 04 - 12 - 2023

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trường Du.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Nông

Ông Lê Công Quyền

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tài – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 260/2023/HSST ngày 26/10/2023 đối với các bị cáo:

1. Họ tên: Trần Văn N - Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 26/10/1989, tại: huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không dân tộc: Kinh; Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Số Thẻ CCCD: [...]; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12 Con ông: Trần Văn H, sinh năm 1959; Con bà: Lê Thị C, sinh năm 1952; Gia đình có 5 anh chị em, bị can là con thứ năm trong gia đình. Vợ: Lê Thị H1, sinh năm 1989, nghề nghiệp: Lao động tự do; Con: có 02 con, con thứ nhất sinh năm 2018, con thứ hai sinh năm 2019, con thứ 3 sinh năm 2023.

Tiền án: không.

Tiền sự: 02. Ngày 05/4/2019, bị Công an huyện T ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính số 47/QĐ-XLVPHC về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Mức phạt: 3.500.000 đồng. (Chưa nộp). Ngày 25/5/2019, bị Công an huyện T ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính số 204/QĐ-XLVPHC về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác”. Mức phạt: 2.500.000 đồng. (Chưa nộp).

Bị can bị áp dụng biện pháp ngăn chặn giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 07/5/2023 đến ngày 10/5/2023 chuyển tạm giam. Hiện bị can đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. ( Có mặt)

2. Họ tên: Nguyễn Văn T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 07/10/1994, tại: huyện T, tỉnh Thanh Hóa Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không Dân tộc: Kinh; Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Số Thẻ CCCD: [...]Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Nguyễn Hữu C1, sinh năm 1958; Con bà: Nguyễn Thị H2, sinh năm: 1962; Gia đình có 4 anh chị em, bị can là con thứ tư trong gia đình. Vợ: Nguyễn Thị P, sinh năm 1997, nghề nghiệp: Lao động tự do; Con: có 01 con sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HSST ngày 28/8/2014 của TAND huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh hoá xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ. Đã được xoá án tích.

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

3. Họ tên: Nguyễn Văn C2 – Giới tính :Nam; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 05/8/1994, tại: huyện T, tỉnh Thanh Hóa; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Nơi thường trú và nơi ở hiên nay: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Số Thẻ CCCD: [...]. Trình độ học vấn: 12/12 Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1966; Con bà: Trương Thị H3, sinh năm: 1966; Gia đình có 2 chị em, bị can là con thứ hai trong gia đình. Vợ, con: Chưa. Tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

* Bị hại:

1. Ông Lê Đức Đ, sinh năm 1980; Bà Hà Thị H4, sinh năm 1992; cùng địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện -, tỉnh Thanh Hóa. ( Có mặt)

2. Ông Lê Đức N1, sinh năm 1980( Vắng mặt) và vợ Bà Trần Thị H5, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện -, tỉnh Thanh Hóa.( Có mặt)

* Người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan, gồm:

- Chị Lê Thị H1 - Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

(Có mặt)

* Người làm chứng:

1.Bà Phạm Thị X, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)

2. Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)

3. Ông Lê Đình B, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)

4. Ông Hà Trọng T2, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)

5.Chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)

6. Ông Trịnh Văn N2 - Công an xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.( Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Vụ án “Gây rối trật tự công cộng” và “Cố ý gây thương tích” xảy ra ngày 30/12/2022 tại thôn G, xã T, huyện T.

Khoảng 19 giờ 50 phút ngày 30/12/2022, sau khi uống rượu, ăn cỗ đám cưới nhà người quen xong, Trần Văn N, sinh năm 1989; Nguyễn Văn C2, sinh năm 1994 và Nguyễn Văn T, sinh năm 1994 cùng trú tại xã T, huyện T đi đến quán nhà chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1973, trú tại thôn G, xã T, huyện T để uống nước. Tại đây Trần Văn N có gọi điện thoại cho Lê Đức Đ, sinh năm 1988, trú tại thôn G, xã T, huyện T, (cả hai là bạn của nhau) rủ sang quán của chị G để uống nước nhưng Đ không nghe máy. Do quán nước của chị G ở gần nhà Đ, nên Năm đi bộ sang nhà Đ để gọi trực tiếp. Lúc này Đ đang ngồi xem bóng đá tại nhà mình cùng ông Hà Trọng T2 (bố vợ của Đ) và anh Lê Đình B, Lê Đức N1 (hàng xóm nhà Đ). Đ thấy N đi vào nhà nên ra gặp và cả hai ngồi ở bàn uống nước đặt tại sân nhà Đ để nói chuyện. Trong quá trình nói chuyện, giữa Năm và Đ xảy ra mâu thuẫn to tiếng với nhau. Nghe thấy ĐN chửi nhau thì Nguyễn Văn C2Nguyễn Văn T từ quán nước chạy sang nhà Đ, rồi cùng với N chửi bới Đ. Lúc này, ông T2, anh B, anh N1 và chị Hà Thị H4, sinh năm 1992 (vợ của Đ) chạy ra can ngăn hai bên, rồi đóng cửa kéo Đ vào trong nhà; còn Năm, C2, T đứng ở ngoài đường tỉnh lộ 516D trước cửa nhà Đ tiếp tục chửi bới, thách thức đánh nhau.

Lúc này lực lượng Công an xã T yêu cầu các đối tượng giải tán đi về nhưng C2, T, Năm vẫn tiếp tục đứng trước cửa nhà chửi bới Đ và người nhà Đ, các đối tượng còn dùng chân đạp vào cửa cổng, ném gạch đá vào nhà Đ.

Do bực tức về hành vi của N, C2T; Lê Đức Đ đã lấy 01 con dao bằng kim loại và 01 đoạn tuýp sắt dạng ống tại khu vực phía sau nhà, rồi cầm trên hai tay đi cửa ngách vòng ra phía trước nhà. Khi đến khu vực trước cửa cổng, Đ dùng tay trái cầm tuýp sắt đánh một cái vào lưng và vùng phía sau của C2 thì tuýp sắt bị văng khỏi tay Đ rơi xuống đất. Lúc này C2 quay lại lao về phía Đ, thì bị Đ dùng tay phải cầm dao chém một cái trúng vào vùng trán của C2. Tiếp đó, Đ cầm dao vung lên chém về phía Năm, N đưa tay lên đỡ nên bị Đ chém trúng 02 nhát vào phần mặt ngoài bắp tay trên bên trái và lòng bàn tay trái. Thấy vậy, đồng chí Trịnh Văn N2 (Phó Trưởng Công an xã T) đã yêu cầu người dân có mặt cùng tham gia can ngăn, khống chế đưa Đ vào nhà. Lúc này N, C2, T vẫn không chịu rời đi mà tiếp tục đứng ngoài chửi bới, nhặt gạch, đá ném vào sân, cổng nhà Đ, T dùng cây gậy gỗ đập và thách thức Đ ra đánh nhau. Khi lực lượng Công an xã tăng cường thêm lực lượng đến thì các đối tượng mới dừng lại. (BL: 481-492; 526-539; 571-579; 594-601; 612-641)

Lê Đức Đ bị Công an xã T, huyện T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. (BL: 01-02)

Hậu quả: Nguyễn Văn C2 bị các vết thương sau: 01 vết rách da vùng trán bờ mép sắc gọn, kích thước (05 x 02)cm; 01 vết sưng nề tại vùng đầu phía sau bên phải, kích thước (1,5x1)cm.

Tại Bản kết luận giám định thương tích số 116/2023/TgT ngày 03/02/2023 của Trung tâm P1, xác định: “Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Nguyễn Văn C2 là 8% (T4 phần trăm)”. (BL: 261-262)

Trần Văn N bị các vết thương sau: 01 vết rách da tại mặt ngoài bắp tay trái, kích thước (03 x 12)cm, bờ mép sắc gọn; 01 vết rách da tại lòng bàn tay trái, kích thước (02 x 15)cm, dọc từ lòng bàn tay đến hết ngón tay 05, bờ mép vết thương sắc gọn. (BL: 276-324)

Tại Bản kết luận giám định thương tích số 114/2023/TgT ngày 06/02/2023 của Trung tâm P1, xác định: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Trần Văn N là 10% (Mười phần trăm). (BL: 328-329)

Quá trình tiến hành khám nghiệm hiện trường đã thu giữ: Vết máu tại vị trí ô thoáng và chân tường rào, phương pháp thu giữ bằng tăm bông và niêm phong trong Phong bì kí hiệu (M2); Vết máu tại khu vực vỉa hè trước nhà Lê Đức Đ, phương pháp thu giữ bằng tăm bông và niêm phong trong Phong bì kí hiệu (M3) ; Vết máu tại vị trí cột cổng (phía bên trái tính từ đường Tỉnh lộ 506D vào nhà Lê Đức Đ), phương pháp thu giữ bằng tăm bông và niêm phong trong Phong bì kí hiệu (M4) ; Vết máu tại vị trí cột cổng, phương pháp thu giữ bằng tăm bông và niêm phong trong Phong bì kí hiệu M5 ; Các mảnh vỡ (dạng mảnh vỡ gạch hoa bị vỡ). (BL: 180-192)

Tại kết luận giám định số 809/KL-KTHS ngày 21/02/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Trên ống kim loại gửi giám định có máu của Trần Văn N; Trên con dao gửi giám định có máu của Nguyễn Văn C2Trần Văn N; Chất màu nâu đỏ của các mẫu ký hiệu M2, M3, M4, M5 gửi giám định đều là máu của Trần Văn N. (BL: 351-352)

Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT tiến hành thu giữ các video trích xuất từ camera ở khu vực xung quanh hiện trường (của gia đình chị Hà Thị H4 gồm 06 tệp video và của gia đình anh Lê Đình B gồm 23 tệp video). Tại kết luận giám định 2521/KL-KTHS ngày 03/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: “Không phát hiện thấy dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 29 tệp video”. (BL: 360-368)

Việc thu giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:

01 ống kim loại hình trụ tròn, đường kính 02cm, dài 58,4cm; 01 dao tự chế dài 59,6cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 39,6cm, có phần mũi vát nhọn, một cạnh sắc, một cạnh bằng có răng cưa, chỗ rộng nhất lưỡi dao là 04cm, phần cán dao cán bằng gỗ hình trụ tròn màu đỏ dài 20cm, đường kính 3,5cm; các mảnh vỡ (dạng mảnh vỡ gạch hoa bị vỡ). Đây là vật chứng của vụ án chuyển Cục thi hành án dân sự chờ xử lý.

2. Vụ án “Gây rối trật tự công cộng” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản” xảy ra ngày 06/5/2023, tại thôn G, xã T, huyện T.

Bức xúc về việc bị Lê Đức Đ đánh vào ngày 30/12/2022, tối ngày 06/5/2023, Trần Văn N điều khiển xe mô tô đi đến Thôn G, xã T, huyện T để gây sự đánh nhau với Đ. Khi đi đến đoạn đường gần quán nước nhà chị Nguyễn Thị G thì N nghe thấy giọng nói của Đ ở trong quán nói vọng ra: “Thằng chó ni”. Nghe vậy, N dừng xe đi vào nhà bà Phạm Thị X (sinh năm 1962) gần đó lấy một con dao (dạng dao quắm dài khoảng 40cm), rồi đi lại cửa quán nhà chị G để thách thức Đ ra đánh nhau, thì được chị G và mọi người có mặt can ngăn. Đ và vợ là chị Hà Thị H4, sinh năm 1992 trốn trong nhà chị G. Khi đang chửi bới, thách thức Đ đánh nhau thì N nghe anh Lê Đức N1, sinh năm 1980, trú tại thôn H, xã T, huyện T, từ quán nước nhà chị G đi về nhà và nói “đánh chết mẹ hấn đi”. Năm nghĩ anh N1 bảo Đ đánh mình nên đã chửi bới và dùng dao đuổi đánh anh N1. Anh N1 bỏ chạy vào nhà thì chị Trần Thị H5, sinh năm 1983, vợ anh N1 khóa cửa cổng lại. Lúc này N dùng dao quắm chém vào ổ khóa và 02 chiếc xe mô tô của gia đình anh N1 để trước cổng nhà; dùng gạch đá ném vào nhà và dùng dao chém vỡ 01 camera, rồi N tiếp tục đi sang nhà Đ dùng gạch đá ném vào sân, cửa phòng khách nhà anh Đ, dùng dao quắm chém vào 02 xe mô tô của gia đình anh Đ để ở sân. Do không thấy Đ đâu nên N điều khiển xe mô tô đến quán nhà chị Trần Thị C3, sinh năm 1974 ở thôn F, xã T, huyện T, uống nước. Tại đây Năm thấy 01 cái xẻng đặt cạnh đống củi gần quán nên N lại cầm cái xẻng cùng con dao quắm quay lại nhà Đ tìm Đ. Khi đến nhà Đ, N không thấy Đ mà thấy chị H4 (vợ Đ) ở trong nhà. Năm liền dùng xẻng đập vào kính cường lực phòng khách rồi đập tiếp vào 02 xe mô tô để ở sân và dùng dao quắm chém làm vỡ 01 camera và bẻ camera ném ra đường. Do không thấy Đ đâu nên N đi về, trên đường đi về Năm ném xẻng và dao vào vườn nhà chị C3. (BL: 493-515; 540-553; 642-651)

Hậu quả: (BL: 201-218; 387-417)

Tài sản của gia đình chị Trần Thị H5 bị hư hỏng gồm: 01 xe môtô nhãn hiệu Honda WaveS màu đen bạc BKS 36B2-539.25 ; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α màu trắng đen bạc, BKS 36D1-751.85 ; 01 Camera nhãn hiệu “IMOU” màu trắng bị vỡ.

Tài sản của gia đình chị Hà Thị H4 bị hư hỏng gồm: 01 xe mô tô không có BKS, nhãn hiệu Honda Wave α, màu trắng bạc, số khung: RLHJA3927NY432049, số máy: JH39E28562983; 01 xe mô tô BKS 36D1-377.23 ; 01 cửa ra vào phòng khách bằng kính cường lực bị móp méo ; 01 camera nhãn hiệu “IMOU” màu trắng bị vỡ;

Tại kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐG ngày 22/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện T kết luận Tài sản bị hư hỏng của gia đình chị Hà Thị H4 thiệt hại: 6.753.000đ; tài sản bị hư hỏng của gia đình chị Trần Thị H5 thiệt hại: 3.037.000đ. (BL: 434-439). Tổng thiệt hại là 9.790.000₫ (Chín triệu bảy trăm chín mươi nghìn đồng).

Việc thu giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:

Khám nghiệm hiện trường Cơ quan CSĐT Công an huyện T thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S màu đen bạc BKS 36B2-539.25; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α màu trắng đen bạc, BKS 36D1-751.85; 02 Camera nhãn hiệu “IMOU” màu trắng bị vỡ; 01 xe mô tô không có BKS, nhãn hiệu Honda Wave α, màu trắng bạc; 01 xe mô tô BKS 36D1-377.23. Đây là những tài sản của gia đình chị Trần Thị H5Hà Thị H4. Sau khi định giá Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo quy định. (BL: 226a-226d)

Các mảnh gạch nung, các mảnh gạch men có các kích thước khác nhau là vật chứng của vụ án chuyển Cục thi hành án dân sự chờ xử lý.

Cơ quan CSĐT Công an huyện T thu giữ của Trần Văn N 01 xe mô tô BKS 36D1-721.20 nhãn hiệu Honda Vision và bà Trần Thị C3 giao nộp 01 chiếc xẻng có cán bằng tre dài 79cm, đường kính 3,5 cm; phần lưỡi bằng kim loại dạng dẹt kích thước (25,5 x 22 x 12,5)cm; phần lưỡi có các vết trầy xước, bóp méo; 01 (một) con dao (dạng dao quắm) dài 43 cm; cán dao bằng gỗ dài 12,5cm, một bên đầu bọc kim loại; phần lưỡi dao bằng kim loại dài 30,5cm, một bên lưỡi dao sắc, mũi dao nhọn cong xuống; bề mặt lưỡi dao có các vết trầy xước, bóp méo kim loại. Đây là vật chứng của vụ án chuyển Cục thi hành án dân sự chờ xử lý. (BL: 219)

* Cáo trạng: Số 149/CT-VKS-P2 ngày 24/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá truy tố bị cáo Trần Văn N về tội "Gây rối trật tự công cộng, cố ý làm hư hỏng tài sản" theo điểm b khoản 2 Điều 318 và khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Văn C2Nguyễn Văn T về tội "Gây rối trật tự công cộng" theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; Lê Đức Đ về tội "Cố ý gây thương tích" theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa ý kiến: hành vi “Cố ý gây thương tích” của Lê Văn Đ1 đối với Trần Văn N, do Trần Văn N có đơn không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lê Đức Đ và Hội đồng xét xử đình chỉ vụ án đối với hành vi của Lê Đức Đ theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự là đúng quy định của pháp luật.

Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đối với các bị cáo Trần Văn N, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C2 và đề nghị:

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1,2 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự . Xử phạt bị cáo Trần Văn N : 36 tháng đến 42 tháng tù về tội “ Gây rối trật tự công cộng”. áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Năm 09 đến 12 tháng tù về tội : “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự Tổng hợp hình phạt của 02 tội từ 42 tháng tù đến 54 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 07/5/2023

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1Điều 51;Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T: 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt chấp hành án.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C2: 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 đến 52 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

* Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng gồm: 01con dao bằng kim loại, 01 ống tuýp sắt;01 cái xẻng; 01 con dao quắm; các mảnh gạch vỡ.

Trả lại cho Trần Văn N và chị Lê Thị H1 chiếc xe mô tô BKS 36D1-721.20 nhãn hiệu Honda Vision.

(Toàn bộ vật chứng và chiếc xe mô tô BKS 36D1-721.20 nhãn hiệu Honda Vision nêu trên hiện đang tạm giữ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa, theo Biên bản giao nhận vật chứng số 35/2023/TV-CTHANHDSngày 10/11/2023).

* Phần dân sự: Trần Văn N đã bồi thường xong cho Lê Đức Đ, Hà Thị H4 và gia đình Lê Đức N1, Trần Thị H5.

- Tranh luận: Các Bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng, đồng ý và không có tranh luận gì với đề nghị luận tội của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, về quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Bị hại Lê Đức N1 vắng mặt nhưng có vợ tham gia phiên toà,việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử của vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Cơ quan Điều tra căn cứ Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự nhập các hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn N để giải quyết trong cùng một vụ án là đảm bảo đúng quy định và nguyên tắc có lợi cho bị cáo.

Ngày 24/11/2023 Toà án nhân dân tỉnh Thanh hoá nhận được đơn “ Đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lê Đức Đ” đề ngày 22/11/2023 của Trần Văn N do Trại giam Công an tỉnh T chuyển đến, Tại phiên toà hôm nay, Trần Văn N có đơn rút yêu cầu khởi tố đối với Lê Đức Đ là tự nguyện không bị ép buộc. Căn cứ khoản 2 Điều 155; Điều 282 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử đình chỉ vụ án đối với hành vi “Cố ý gây thương tích” của Lê Đức Đ đối với Trần Văn N là đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ chứng minh:

Vào khoảng 20h00' đến 20h30' ngày 30/12/2022,Trần Văn N vì gọi điện cho Đ không nghe máy, nên đi đến nhà Đ có lời lẽ xúc phạm Đ, dẫn đến cãi nhau. Tiếp đó, Trần Văn N, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn T đứng trước nhà Đ tại đường tỉnh lộ 506D thuộc thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đã có hành vi chửi bới, cầm gạch đá ném vào nhà, T dùng gậy gỗ đập, thách thức Đ đánh nhau, mặc dù được người dân và Công an xã T can ngăn nhưng các bị cáo không dừng lại, gây mất trật tự trị an tại khu dân cư, Đến khi Công an xã T tăng cường thêm lực lượng thì các bị cáo mới dừng lại.

Vào khoảng hơn 21h00' ngày 06/5/2023, tại đường T thuộc thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Trần Văn N đã có hành vi cầm dao chửi bới thách thức Lê Đức Đ đánh nhau. Sau đó sử dụng dao, xẻng đập phá làm hư hỏng 02 xe mô tô, 01 camera của gia đình anh Lê Đức N1, chị Trần Thị H5; 02 xe mô tô, 01 camera, 01 cửa kính cường lực của gia đình Lê Đức Đ, chị Hà Thị H4. Ngoài ra Năm còn dùng gạch đứng ngoài đường ném vào nhà chị H5 và chị H4. Tổng giá trị tài sản bị hư hỏng là 9.790.000₫ (Chín triệu bảy trăm chín mươi nghìn đồng)

[3]. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của Trần Văn N, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn T đứng ngoài đường tỉnh lộ 506D chửi bới, dùng gậy gỗ đập, ném gạch, đá vào nhà Lê Đức Đ ngày 30/12/2022 và hành vi của Trần Văn N sử dụng dao, xẻng, gạch đá đứng người đường tỉnh lộ 506D chửi bới, đập phá tài sản, ném vào nhà chị Trần Thị H5 và chị Hà Thị H4 ngày 06/5/2023 đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm trật tự ở nơi công cộng đã cấu thành tội "Gây rối trật tự công cộng" với tình tiết định khung “dùng vũ khí, hung khí”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 điều 318 BLHS. Hành vi của Trần Văn N dùng xẻng và dao đập phá tài sản gây thiệt hại 9.790.000₫ đã cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 178 BLHS, như Cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo Trần Văn N, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C2, là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến an ninh trật tự, nơi công cộng, hành vi của Trần văn N3 còn xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục răn đe và phòng ngừa chung là cần thiết.

Đối với Hành vi của bị cáo Trần Văn N, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C2, về tội gây rối trật tự công cộng xảy ra ngày 30/12/2022, tại đường T thuộc thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công trước, nhất thời phạm tội, thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Bị cáo Trần Văn N là người khởi xướng, thực hiện hành vi tích cực nên có vai trò thứ nhất. Nguyễn Văn T tham gia giúp sức tích cực dùng gậy gỗ đập, thách thức đánh Đ nên có vai sau Năm. Cảnh tham gia giúp sức với vai trò thứ yếu. Đây là căn cứ phân hoá vai trò trong đồng phạm để áp dụng hình phạt đối với các bị cáo theo quy định tại Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.

[4] Xét tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

- Tình tiết tăng nặng: bị cáo Trần Văn N hai lần có hành vi gây rối trật tự công cộng, nên phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội từ 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Trần Văn N có bác ruột là Liệt sỹ, bản thân đã bồi thường thiệt hại đối với tội “ Cố ý huỷ hoại tài sản” cho các bị hại đầy đủ và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, khoản 1, 2 Điều 51 BLHS, Bị cáo Nguyễn Văn C2 có ông nội là người có công với cách mạng, tham gia kháng chiến chống Pháp, bản thân chấp hành tốt nghĩa vụ công dân có xác nhận của chính quyền địa phương, nên xem xét cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

[5] Về trách nhiệm hình sự:

- Đối với bị cáo Trần Văn N có 02 tiền sự chưa được xoá, phạm tội với vai trò khởi xướng trong đồng phạm; có tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần trở lên, phạm hai tội trong vụ án. Căn cứ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo đủ để giáo dục bị cáo đồng thời răn đe phòng ngừa chung.

- Đối với bị cáo Nguyễn Văn T năm 2014 bị TAND huyện Thọ Xuân xử phạt 12 tháng tù về tội: Chống người thi hành công vụ, đã được xoá án tích. Bị cáo có vai trò tích cực thứ 2 trong đồng phạm. Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo đủ để giáo dục bị cáo biết tôn trọng và chấp hành pháp luật.

- Đối với bị cáo Nguyễn Văn C2 có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS, nhân thân không tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng không đáng kể, có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy, không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội, nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân đối với bị cáo.

* Về Hình phạt bổ sung: Bị cáo Trần Văn N nghề nghiệp tự do, thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 178 BLHS đối với bị cáo.

[5]. Xử lý vật chứng : Căn cứ Điều 46; 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ các vật chứngkhông còn giá trị sử dụng của vụ án gồm : 01 ống kim loại hình trụ tròn, đường kính 02cm, dài 58,4cm; 01 dao tự chế dài 59,6cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 39,6cm,, phần cán dao cán bằng gỗ hình trụ tròn màu đỏ dài 20cm, đường kính 3,5cm; các mảnh vỡ (dạng mảnh vỡ gạch hoa bị vỡ);01 chiếc xẻng có cán bằng tre dài 79cm, 01 (một) con dao (dạng dao quắm) dài 43 cm; cán dao bằng gỗ dài 12,5cm chị Nguyễn Thị C4 không yêu cầu nhận lại.

- Đối với chiếc xe mô tô BKS 36D1-721.20 nhãn hiệu Honda Vision mà bị cáo Trần Văn N sử dụng trong đêm 06/5/2023 là tài sản chung của vợ chồng bị cáo, chị Lê Thị H1 không biết việc đêm hôm đó bị cáo đi xe và có hành vi phạm tội, mặt khác bị cáo không sử dụng trực tiếp làm công cụ phạm tội, do vậy Hội đồng xét xử thấy rằng cần trả lại cho Trần Văn N và chị Lê Thị H1.

(Toàn bộ vật chứng và chiếc xe mô tô BKS 36D1-721.20 nhãn hiệu Honda Vision nêu trên hiện đang tạm giữ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa, theo Biên bản giao nhận vật chứng số 35/2023/TV-CTHANHDSngày 10/11/2023).

[ 6]. Về trách nhiệm dân sự: Trần Văn N đã thoả thuận bồi thường cho gia đình anh Lê Đức Đ, chị Hà Thị H4, Lê Đức N1, Trần Thị H5 tiền hư hỏng tài sản xong. Các bên không có yêu cầu gì thêm, nên HĐXX không xem xét.

[7] Án phí: Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST theo quy định.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn N phạm tội “ Gây rối trật tự công cộng” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Bị cáo Nguyễn Văn TNguyễn Văn C2 phạm tội “ Gây rối trật tự công cộng”

[2]. Áp dụng điều luật và xử phạt:

2.1. Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Bộ luật hình sự . Xử phạt bị cáo Trần Văn N : 36 (Ba sáu) tháng tù về tội “ Gây rối trật tự công cộng”

Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38; Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn N 09 (Chín) tháng tù về tội : “Cố ý làm hư hỏng tài sản".

Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự :Tổng hợp hình phạt của 02 tội Bị cáo Trần Văn N phải chấp hành : 45(Bốn lăm) tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/5/2023.

2.2. Áp dụng Đ2 b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51;Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T: 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt chấp hành án.

2.3. Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C2: 24(Hai bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (Bốn tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn C2 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo được hưởng án treo nếu thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

[3]. Xử lý vật chứng:

Áp dụng: Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

3.1. Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng gồm: 01con dao bằng kim loại, 01 ống tuýp sắt; 01 cái xẻng; 01 con dao quắm; các mảnh gạch vỡ.

3.2. Trả lại cho Trần Văn N và chị Lê Thị H1 chiếc xe mô tô BKS 36D1-721.20 nhãn hiệu Honda Vision.

(Toàn bộ vật chứng trên và chiếc xe mô tô BKS 36D1-721.20 nhãn hiệu Honda Vision hiện đang tạm giữ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa, theo Biên bản giao nhận vật chứng số 35/2023/TV-CTHANHDSngày 10/11/2023).

[4]. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

- Các bị cáo Trần Văn N, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng( Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

[5]. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hợp lệ hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

“Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại HN;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Công an tỉnh Thanh Hoá;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hoá;
  • - Bị cáo, Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

Phạm Trường Du

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

 

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 286/2023/HSST ngày 04/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự (gây rối trật tự công cộng; cố ý làm hư hỏng tài sản)

  • Số bản án: 286/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Gây rối trật tự công cộng; Cố ý làm hư hỏng tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trần văn Năm cùng đồng bọn dùng dao, gậy, gạch đá đập ném gây mất trật tụ taij khu dân cư
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger