|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 285/2024/DS-PT Ngày: 31 - 5 - 2024 “V/v tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng. |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Chí Dững. |
| Ông Sỹ Danh Đạt. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Ông Phan Trung Quốc - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 175/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 185/2023/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 316/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đinh Công S, sinh năm 1964; đăng ký thường trú: Số E, khóm C, phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long; tạm trú: Ấp D, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.
- Bị đơn: Anh Biện Công T, sinh năm 1972 và chị Trần Lý Tuyết N, sinh năm 1977; đăng ký thường trú: Ấp P, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; tạm trú: Số B, tổ A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1980; địa chỉ: Ấp D, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.
- Chị Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1989; địa chỉ: Ấp D, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; vắng mặt.
- Người kháng cáo: Anh Biện Công T và chị Trần Lý Tuyết N, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn Đinh Công sơn trình bày:
Ngày 09/6/2022, anh Biện Công T và vợ là chị Trần Lý Tuyết N có vay của ông S số tiền 1.200.000.000 đồng, có viết giấy vay tiền, lãi suất thỏa thuận là 2%/tháng, thời hạn vay từ ngày 09/6/2022 đến ngày 09/7/2022 sẽ trả, mục đích vợ chồng anh T vay tiền của ông S để đáo hạn Ngân hàng và anh T có thế chấp cho ông S quyền sử dụng đất do Nguyễn Thị Mai X đứng tên để làm tin. Đến ngày 15/9/2022, vợ chồng anh T và chị N có viết biên nhận về việc nhận lại quyền sử dụng đất, ông S đã giao trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho vợ chồng anh T và chị N. Vợ chồng anh T, chị N hẹn một tháng sau sẽ trả tiền cho ông S nhưng không thực hiện. Số tiền lãi được tính từ ngày 09/6/2022 đến ngày 09/9/2022: 03 tháng x 24.000.000đồng/tháng = 72.000.000 đồng. Vợ chồng anh T, chị N có ký xác nhận nợ tiền gốc 1.200.000.000 đồng và tiền lãi 72.000.000 đồng, tổng cộng là 1.272.000.000 đồng, tiếp tục hứa hẹn và cam kết sẽ trả tiền, ông S cũng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng vợ chồng anh T cũng không trả. Ngày 15/9/2022, vợ chồng anh T, chị N có viết giấy xác nhận có nợ ông S số tiền gốc là 1.200.000.000 đồng và tiền lãi là 72.000.000 đồng và hẹn trong vòng 18 giờ ngày 16/9/2022 sẽ giải quyết nhưng đến nay vẫn chưa trả. Nay ông S yêu cầu anh T và chị N phải có trách nhiệm trả cho ông S vốn gốc là 1.200.000.000 đồng và tính lãi từ ngày 09/6/2022 đến ngày giải quyết xong vụ án với lãi suất 2%/tháng. Tại phiên tòa, ông S yêu cầu anh T, chị N phải có trách nhiệm trả cho ông S vốn gốc là 1.200.000.000 đồng và tính lãi từ ngày 09/6/2022 đến ngày giải quyết xong vụ án với mức lãi suất là 0.83%/tháng.
Bị đơn Biện Công T và Trần Lý Tuyết N trình bày:
Trước đây vào khoảng tháng 12/2020, vợ chồng anh T nhiều lần vay tiền của vợ chồng ông Đinh Công S và chị Nguyễn Thị Thúy L, tính đến tháng 4/2021 nợ gốc và lãi ông S, chị L cộng dồn lại vợ chồng anh T còn nợ là 1.800.000.000 đồng, tiền lãi là 18%/tháng. Từ khi vay tiền đến ngày 31/05/2022, vợ chồng anh T đã nhiều lần đóng lãi cho vợ chồng ông S, chị L bằng hình thức chuyển khoản trực tiếp vào tài khoản của chị L với tổng số tiền là 2.893.800.000 đồng. Do dịch bệnh, công việc làm ăn của vợ chồng anh T gặp nhiều khó khăn nên không đóng lãi cho ông S, chị L được. Đến ngày 09/6/2022, ông S yêu cầu vợ chồng anh T ký lại 03 giấy vay tiền với ông S là có vay của ông S tổng số tiền là 2.500.000.000 đồng, trong đó một giấy vay tiền 600.000.000 đồng, một giấy vay tiền 700.000.000 đồng và một giấy vay tiền 1.200.000.000 đồng. Vợ chồng anh T có thế chấp 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Biện Công T, Biện K, Biện Kim L1 cho ông S. Đến ngày 15/9/2022, vợ chồng anh T ký giấy biên nhận để nhận lại một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Biện Kim L1. Nay ông S yêu cầu vợ chồng anh T trả lại số tiền là 1.200.000.000 đồng mà không khấu trừ số tiền vợ chồng anh T đã đóng cho ông S, chị L. Do vậy anh T và chị N yêu cầu ông S và chị L trả cho anh T, chị N số tiền sau khi đã khấu trừ là: 2.893.800.000 đồng – 2.500.000.000 đồng = 393.800.000 đồng và yêu cầu ông S trả lại cho vợ chồng anh T hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Biên Công T2 và Biện Kim T3. Tại phiên tòa, anh T2 và chị N xin rút lại yêu cầu phản tố, không yêu cầu ông Đinh Công S và chị Nguyễn Thị Thúy L trả cho anh T2 và chị N số tiền sau khi đã khấu trừ là 393.800.000 đồng, anh T2 và chị N đồng ý trả cho ông Đinh Công S số
tiền 1.200.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 09/6/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm với lãi suất là 0.83%/tháng. Anh T2 thừa nhận giấy vay tiền ngày 09/6/2022; giấy xác nhận nợ 15/9/2022; tờ cam kết ngày 29/8/2022 bên vay tiền thì vợ chồng anh T2 và chị N có ký tên. Anh T2 trình bày ngày 09/6/2022, vợ chồng anh T2, chị N có ký biên nhận 1.200.000.000 đồng nhưng không có nhận tiền vì vợ chồng ông S ép vợ chồng anh T2 ký biên nhận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Thúy L trình bày:
Chị L không có liên quan gì đến anh T2 và chị N và không liên quan đến việc ông S cho vợ chồng anh T2 vay tiền nên chị L không đồng ý trả tiền theo yêu cầu của anh T2 và chị N. Chị L có chứng kiến ngày 09/6/2022, ông S có cho vợ chồng anh T2 vay số tiền 1.200.000.000 đồng và vợ chồng anh T2 có nhận tiền vào ngày 09/6/2022.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 185/2023/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:
Căn cứ các điều 357, 463, 466 và Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đình chỉ yêu cầu của anh Biện Công T và chị Trần Lý Tuyết N đối với yêu cầu ông Đình Công S1 và chị Nguyễn Thị Thúy L phải trả số tiền là 393.800.000 đồng (Ba trăm chín mươi ba triệu tám trăm nghìn đồng).
Công nhận sự thỏa thuận của ông Đinh Công S với anh Biện Công T và chị Trần Lý Tuyết N. Anh Biện Công T và chị Trần Lý Tuyết N đồng ý trả cho ông Đinh Công S số tiền vay còn thiếu vốn gốc và lãi là 1.349.400.000 đồng (Một tỷ ba trăm bốn mươi chín triệu bốn trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí:
Hoàn trả cho ông Đinh Công S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 25.080.000 đồng (Hai mươi lăm triệu không trăm tám mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000491 ngày 14/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.
Anh Biện Công T và chị Trần Lý Tuyết N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 52.482.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp là 9.845.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000922 ngày 02/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh. Anh T và chị N còn phải nộp tiếp số tiền là 42.637.000 đồng.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về quyền và thời hạn kháng cáo của đương sự, quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, thời hiệu thi hành án theo quy định của pháp luật.
Ngày 30/9/2023, bị đơn Biện Công T và Trần Lý Tuyết N kháng cáo yêu cầu ông Đinh Công S và chị Nguyễn Thị Thúy L có nghĩa vụ liên đới trả lại số tiền lãi đã đóng vượt là 424.439.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn Đinh Công S không rút đơn khởi kiện, không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn Biện Công T và Trần Lý Tuyết N.
Bị đơn Biện Công T và Trần Lý Tuyết N không rút kháng cáo. Tại Tòa án cấp sơ thẩm, anh T và chị N yêu cầu ông S và chị L trả lại tiền lãi đã đóng vượt số tiền 393.800.000 đồng, sau khi tính toán lại số tiền lãi đóng vượt nhiều hơn nên anh T và chị N yêu cầu ông S và chị L trả lại tiền lãi đã đóng vượt số tiền 424.439.000 đồng.
Chị Nguyễn Thị Thúy L không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn Biện Công T và Trần Lý Tuyết N.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xư, Thư ký, đương sự và người tham gia tố tụng khác đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý phúc thẩm và xét xư. Đơn kháng cáo của bị đơn Biện Công T và Trần Lý Tuyết N đúng thời hạn, thủ tục theo luật định nên hợp lệ.
Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Biện Công T và Trần Lý Tuyết N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của bị đơn Biện Công T, Trần Lý Tuyết N nộp trong thời hạn và đúng thủ tục theo quy định của pháp luật nên hợp lệ.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn Biện Công T và Trần Lý Tuyết N, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
[2.1] Tại Tòa án cấp sơ thẩm, anh Biện Công T và chị Trần Lý Tuyết N có đơn phản tố yêu cầu ông Đinh Công S và chị Nguyễn Thị Thúy L trả cho anh T và chị N số tiền sau khi đã khấu trừ là 393.800.000 đồng. Tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm anh T và chị N đã rút đơn phản tố, đồng ý trả vốn vay 1.200.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 09/6/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm với lãi suất 0,83%/tháng theo yêu cầu của ông S. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của anh Biện Công T và chị Trần Lý Tuyết N yêu cầu ông Đình Công S1 và chị Nguyễn Thị Thúy L phải trả số tiền là 393.800.000 đồng và công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Đinh Công S với Biện Công T và Trần Lý Tuyết N về vốn gốc và lãi số tiền 1.349.400.000 đồng là có căn cứ.
[2.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, anh T và chị N kháng cáo yêu cầu ông Đinh Công S và chị Nguyễn Thị Thúy L có nghĩa vụ liên đới trả lại số tiền lãi đã đóng vượt đúng là 424.439.000 đồng chứ không phải 393.800.000 đồng như đã yêu cầu tại Tòa án cấp sơ thẩm. Ông S và chị L không đồng ý trả số tiền 424.439.000 đồng theo yêu cầu kháng cáo của anh T và chị N. Do Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét, giải quyết yêu cầu phản tố của anh T và chị N yêu cầu ông S và chị L hoàn trả số tiền là 393.800.000 đồng nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét kháng cáo của anh T và chị N yêu cầu
ông Đinh Công S và bà Nguyễn Thị Thúy L có nghĩa vụ liên đới trả lại số tiền lãi đã đóng vượt 424.439.000 đồng. Vì vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của anh T và chị N.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh T và chị N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[4] Những ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị không chấp nhận kháng cáo của anh Biện Công T và chị Trần Lý Tuyết N do phù hợp như đã nhận định trên nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[5] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của anh Biện Công T và chị Trần Lý Tuyết N.
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 185/2023/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của anh Biện Công T và chị Trần Lý Tuyết N yêu cầu ông Đình Công S1 và chị Nguyễn Thị Thúy L phải trả số tiền 393.800.000 đồng (Ba trăm chín mươi ba triệu tám trăm nghìn đồng).
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Biện Công T và chị Trần Lý Tuyết N mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm; được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0001125 ngày 04/01/2024 và 300.000 đồng theo biên lai số 0001126 ngày 04/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Thúy Hằng |
Bản án số 285/2024/DS-PT ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 285/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
