Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 285/2024/DS - ST.

Ngày: 12/6/2024.

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ tọa phiên tòa – Thẩm phán: Ông Đặng Đình Tiến.

Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Minh Thanh.
  2. Ông Võ Thành Viên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa:

Bà Đinh Hương Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 160/2024/TLST-DS, ngày 13/03/2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2024/QĐXXST - DS ngày 15 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 142/2024/QĐST-DS, ngày 13 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng X.

Trụ sở chính: Đường N.T.M.K, Phường A, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện theo pháp luật có ông T.T.P – Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền bà T.H.T.N.

(Giấy ủy quyền số 1060/UQ-QLN.23 ngày 24/7/2023).

(Bà Như có mặt).

Bị đơn: Bà Đ.T.H.C, sinh năm: 1982.

Địa chỉ: Đường số 2, Phường A, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Bà C vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 08/08/2024, nguyên đơn Ngân hàng X (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là bà T.H.T.N trình bày:

Vào ngày 01/3/2021, Ngân hàng X và bà Đ.T.H.C có ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và bản Điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của bà C, Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng Visa Gold số thẻ 4791 3925 5090 6628 với hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân lãi suất trong hạn 29%/năm (áp dụng từ lúc mở thẻ đến trước ngày 13/7/2023), lãi suất trong hạn 32%/năm (áp dụng từ sau ngày 13/7/2023 đến nay); lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng bà C đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 308.139.489 đồng.

Từ ngày kích hoạt thẻ cho đến nay bà C đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 281.711.023 đồng. Tổng số tiền thanh toán được áp dụng theo Điều 9 của bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Do bà C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngày 13/7/2022, Ngân hàng đã chuyển khoản thẻ số 4791 3925 5090 6628 sang nợ quá hạn, đồng thời quyết định chấm dứt việc sử dụng thẻ, thu hồi toàn bộ nợ thẻ chưa thanh toán của bà C và áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, dư nợ tại thời điểm chuyển nợ quá hạn là 94.162.968 đồng.

Tính đến ngày 12/6/2024, bà C còn nợ Ngân hàng số tiền 48.891.585 đồng bao gồm: Vốn gốc: 21.359.409 đồng; Lãi quá hạn: 27.532.177 đồng.

Nay Ngân hàng yêu cầu tòa án tuyên buộc:

  1. Buộc bà Đ.T.H.C trả ngay cho Ngân hàng tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 12/6/2024 là 48.891.586 đồng.
  2. Buộc bà Đ.T.H.C còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng tính kể từ ngày 13/6/2024 đến ngày trả hết nợ.
  3. Thứ tự trả nợ như sau: Vốn gốc, lãi quá hạn.

Bị đơn bà Đ.T.H.C, theo kết quả trả lời xác minh của Công an Phường A, quận Gò Vấp có nội dung: Bà C có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số đường số 2, Phường A, quận Gò Vấp nhưng không thực tế cư ngụ tại địa chỉ nêu trên. Bà C hiện nay đang cư ngụ tại địa chỉ số đường B, Phường C, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo kết quả xác minh của Công an Phường C, quận Gò Vấp có nội dung: Tại địa chỉ số đường B, Phường C, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh không có ai tên Đ. T. H. C thực tế cư trú tại đây.

Do đó, Tòa án xác định địa chỉ số đường số 2, Phường A, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi cư trú cuối cùng của bà C. Bà C chuyển đi nhưng không cung cấp địa chỉ nơi chuyển đến thuộc trường hợp cố tình dấu địa chỉ cư trú. Do đó, Toà án niêm yết Giấy triệu tập bà C tại địa chỉ nêu trên để triệu tập bà C đến Tòa án ghi lời khai, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò vấp:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về phiên toà sơ thẩm.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng các Điều 70 và 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Đ.T.H.C phải có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ cho Ngân hàng là 48.891.585 đồng và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi trả hết nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ngân hàng khởi kiện bà Đ.T.H.C về hợp đồng tín dụng. Bà C cư trú tại quận Gò Vấp. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về người tham gia tố tụng:

Bị đơn bà C đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng với thủ tục được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Xét yêu cầu của đương sự:

Căn cứ lời trình bày của đại diện nguyên đơn: “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 01/3/2021 và Phiếu thông tin tư vấn sản phẩm thẻ giữa bà Đ.T.H.C với Ngân hàng có trong hồ sơ vụ án đã thể hiện từ ngày 01/3/2022 bà C có sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng để thanh toán tiền.

Xét về hình thức và nội dung của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 01/3/2021 và Phiếu thông tin tư vấn sản phẩm thẻ giữa bà Đ.T.H.C với Ngân hàng, Hội đồng xét xử nhận thấy cả hai đều được lập bằng văn bản, các bên tham gia giao kết hoàn toàn tự nguyện, nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Tuy nhiên, bà C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, cụ thể kể từ ngày 12/7/2022 bà C đã không thanh toán số tiền gốc và lãi phải trả. Như vậy bà C đã vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà C phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng tiền gốc và tiền lãi là có cơ sở, phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng, phù hợp với quy định tại các Điều 280, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà C phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền 48.891.585 đồng bao gồm: Vốn gốc: 21.359.409 đồng; Lãi quá hạn đến ngày xét xử: 27.532.177 đồng. Ngoài ra, đại diện nguyên đơn yêu cầu bà C còn phải thanh toán tiền lãi theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày 13/6/2024 cho đến khi trả dứt nợ cho Ngân hàng, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu này là có cơ sở nên chấp nhận.

Chấp nhận toàn bộ đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Nguyên đơn không phải chịu án phí, được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; điểm e khoản 1 Điều 192; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 280, khoản 1 Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào các Điều 6,7, 7a, 7b, 9 và 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã sửa đổi, bổ sung năm 2014;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng X đối với bà Đ.T.H.C:

    Buộc bà Đ.T.H.C phải trả Ngân hàng X số tiền 48.891.585 (Bốn mươi tám triệu tám trăm chín mươi mốt nghìn năm trăm tám mươi lăm) đồng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Bà C vẫn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 01/03/2023 và quy định về biểu phí lãi suất, số lượng thẻ và hạn mức giao dịch đối với thẻ do ngân hàng phát hành ngày 28/9/2020, kể từ ngày 13/6/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

    Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  2. Về án phí:

    Bà Đ.T.H.C phải chịu 2.444.579 (Hai triệu bốn trăm bốn mươi bốn năm trăm bảy mươi chín) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Hoàn trả cho Ngân hàng X số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.358.658 (Một triệu ba trăm năm mươi tám ngàn sáu trăm năm mươi tám) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012732 ngày 13/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • · Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; (01)
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp; (01)
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp; (01)
  • - Các đương sự, (02)
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ. (5)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Đình Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 285/2024/DS - ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 285/2024/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger