Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 285/2024/HS-ST

Ngày: 27 – 9 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

***

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Anh Thi.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Dương Thị Bạn.

Bà Phạm Thị Thu Yến.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sao Mai, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 293/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 335/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn V, sinh năm: 1997 tại tỉnh An Giang; Nơi thường trú: Ấp P, xã T, huyện T, tỉnh An Giang; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ văn hóa: 7/12; Con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Đặng Thị Bé H; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2024 cho đến nay. Có mặt.

Bị hại: Bà Bùi Thu H1, sinh năm: 1997; Nơi thường trú: Ấp L, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Tạm trú: 25A/2/15 khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Trần Văn S, sinh năm 1995; Nơi thường trú: Tổ dân phố Đ, phường C, huyện D, tỉnh Hà Nam; Tạm trú: Ô 30, đường D, khu dân cư V, khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn P. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn V và bà Bùi Thu H1 là bạn bè. Khoảng 22 giờ 00 ngày 28/4/2024, Nguyễn Văn V đi đến siêu thị V1, địa chỉ khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương gặp bà H1 để mượn 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 36K5-352.63 (có Giấy chứng nhận đăng ký xe trong cốp xe) để đi công việc trong vòng 2 tiếng sẽ trả lại cho bà H1. Sau đó, V điều khiển xe mô tô nói trên chở bà H1 về phòng trọ tại khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương rồi V điều khiển xe mô tô rời đi. Sau đó, bà H1 nhiều lần liên lạc yêu cầu nhưng V chỉ hứa hẹn mà không mang xe đến trả.

Đến ngày 04/5/2024, do thiếu tiền tiêu, V nảy sinh ý định cầm xe mô tô của bà H1 lấy tiền tiêu xài. V điều khiển xe mô tô đến tiệm cầm đồ “Bảo Tín 1”, Ô 30, khu dân cư V, đường D, khu phố D, phường A, thành phố T gặp ông Trần Văn S cầm cố (kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký) với giá 14.000.000 đồng.

Ngày 11/5/2024, bà H1 chưa thấy V mang xe trả nên tiếp tục liên lạc V. Lúc này, V nói dối với bà H1 là xe bị lực lượng Cảnh sát giao thông Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương bắt, V lên mạng tải chụp 01 hình biên bản vi phạm hành chính của lực lượng Công an gửi cho bà H1 nhằm làm cho bà H1 tưởng thật rồi V nói bà H1 chuyển 3.000.000 đồng để đóng tiền phạt lấy xe mô tô về, tin tưởng là thật nên bà H1 chuyển số tiền 3.000.000 đồng cho V, sau khi nhận tiền V tiêu xài hết.

Đến ngày 14/5/2024, V đi đến tiệm cầm đồ “Bảo Tín 1” gặp ông S cầm cố xe của bà H1 thêm 3.000.000 đồng. Đến ngày 30/5/2024, V nhắn tin cho ông S muốn bán xe luôn, ông S đồng ý mua với giá 17.500.000 đồng, sau khi trừ số tiền đã cầm cố 17.000.000 đồng, ông S chuyển khoản cho V số tiền còn lại 500.000 đồng và yêu cầu hôm sau V đến ký hợp đồng mua bán.

Đến khoảng 21 giờ 00 ngày 01/6/2024, bà H1 phát hiện V đang ở khu vực phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên trình báo Lực lượng Công an. Tại Cơ quan Công an, V đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Theo Kết luận định giá tài sản số 81/KL-HĐĐGTS ngày 06/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh nâu bạc, biển số: 36K5-352.63 trị giá 20.000.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 267/CT-VKS -TA ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 và khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175 và khoản 1 Điều 174; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và từ 08 tháng đến 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông S số tiền 17.500.000 đồng và bồi thường cho bà H1 số tiền 3.000.000 đồng.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt bị truy tố, không thắc mắc hay khiếu nại gì. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo trong hồ sơ, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, kết luận định giá, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 22 giờ 00 ngày 28/4/2024, tại khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, sau khi bà Bùi Thu H1 cho Nguyễn Văn V mượn 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 36K5-352.63 để đi công việc. Sau đó, V thường xuyên hứa nhưng không mang xe đến trả cho bà H1. Đến ngày 04/5/2024, V nảy sinh ý định cầm xe mô tô của bà H1 lấy tiền tiêu xài nên điều khiển xe đến tiệm cầm đồ “Bảo Tín 1”, ô 30, khu dân cư V, đường D, khu phố D, phường A, thành phố T gặp ông Trần Văn S là chủ tiệm cầm cố được 14.000.000 đồng. Ngày 11/5/2024, không thấy V mang xe trả nên bà H1 tiếp tục liên lạc thì V dùng lời nói và hình ảnh giả để lừa dối xe đang bị lực lượng Công an thành phố Dĩ An bắt, tạm giữ và nói bà H1 chuyển cho V số tiền 3.000.000 đồng để nộp phạt lấy xe về, bà H1 tưởng thật nên chuyển cho V, sau khi nhận tiền V tiêu xài hết.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 và khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy đã tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm, nhưng vì thỏa mãn nhu cầu của bản thân, sau khi mượn được tài sản của bị hại, bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt nên mang đi cầm cố lấy tiền. Sau đó, bị cáo dùng thông tin gian dối làm cho bị hại tin tưởng là thật nhằm chiếm đoạt tài sản của họ. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, lỗi của bị cáo là cố ý trực tiếp, do đó cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[7] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ nên chấp nhận.

[8] Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp và trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra thu giữ:

01 xe mô tô biển số 36K5-352.63 của bị hại bà H1, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ thể hiện yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền bị lừa 3.000.000 đồng; Ông Trần Văn S nhận cầm cố xe mô tô của bị cáo, không biết tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T không xử lý hình sự ông S. Ông S vắng mặt nhưng trong hồ sơ cũng yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 17.500.000 đồng đã đưa bị cáo. Bị cáo đồng ý bồi thường cho bà H1 và ông S nên chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm a khoản 1 Điều 175; Khoản 1 Điều 174; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 46, 48, 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). - Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. - Điều 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015. - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về trách nhiệm hình sự:
  2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và 08 (tám) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 01 (một) năm 11 (mười một) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 03/6/2024.

  3. Về trách nhiệm dân sự:
  4. Buộc bị cáo Nguyễn Văn V có trách nhiệm bồi thường cho ông Trần Văn S số tiền 17.500.000 đồng và bồi thường cho bà Bùi Thu H1 số tiền 3.000.000 đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  5. Về án phí:
  6. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự và 1.025.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo:
  8. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương
  • - VKSND thành phố Thuận An;
  • - Chi cục THADS thành phố Thuận An;
  • - Công an thành phố Thuận An;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Lưu HS, THAHS, AV;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Thi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 285/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 285/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger