Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG ANH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:285/2023/HS-ST

Ngày: 26/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán sơ cấp - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quang Tuyến
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Tô Văn Ngọc
  • 2/ Bà Nguyễn Thị Mai

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hùng - Thư ký toà án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh - thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hiệp - Kiểm sát viên sơ cấp.

Trong ngày 26/12/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 297/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 282/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Huy K - sinh năm 1966; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Huy Đ và bà Nguyễn Thị N; Vợ Hoàng Thị H 9 (đã chết); Có 03 con lớn sinh 1989, nhỏ sinh 2016; Gia đình có 9 anh chị em, bị cáo là con thứ 9; Tiền án, tiền sự:

  • Ngày 12/4/1986 bị Toà án nhân dân huyện Đông Anh xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân. Chấp hành xong hình phạt ngày 02/9/1987 (đã xoá án tích).
  • Ngày 28/4/2020 bị Toà án nhân dân huyện Đông Anh xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 20 tháng (Bản án số 48/2020/HSST, án tích đã được xoá)

D chỉ bản số 757 lập ngày 09/10/2023 của Công an huyện Đ, thành phố Hà Nội; Tạm giữ từ ngày 02/10/2023 đến ngày 08/10/2023 tại Công an huyện Đ. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa.

2. Trần Nam T – sinh năm 1979; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở : Thôn Đ, xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 4/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn Q và bà Vũ Thị D1; Vợ Bùi Thị Thủy T1 (đã ly hôn); Có 02 con, lớn sinh năm 2001 nhỏ sinh năm 2014; Gia đình có 2 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự:

  • Ngày 13/5/2004 bị Công an huyện Đ xử lý hành chính về hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, mức phạt 100.000 đồng (đã nộp phạt ngày 13/5/2004)

D chỉ bản số 755 lập ngày 09/10/2023 của Công an huyện Đ, thành phố Hà Nội; Tạm giữ từ ngày 02/10/2023 đến ngày 08/10/2023 tại Công an huyện Đ. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa.

3. Ngô Văn P – sinh năm 1971; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do;Trình độ văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Ngô Văn Đ1 và bà Bùi Thị B; Vợ Nguyễn Thị T2; Có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2014; Gia đình có 6 anh chị em, bị cáo là con thứ 4; Tiền án, tiền sự: Không

D chỉ bản số 756 lập ngày 09/10/2023 của Công an huyện Đ, thành phố Hà Nội; Tạm giữ từ ngày 02/10/2023 đến ngày 08/10/2023 tại Công an huyện Đ. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa.

4. Trần Ngọc Ú – sinh năm 1980; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Ngọc S và bà Trần Thị S1; Vợ Đinh Thị H1; Có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2014; Gia đình có 5 anh chị em, bị cáo là con thứ 5; Tiền án, tiền sự: Không

D chỉ bản số 754 lập ngày 09/10/2023 của Công an huyện Đ, thành phố Hà Nội; Tạm giữ từ ngày 02/10/2023 đến ngày 08/10/2023 tại Công an huyện Đ. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :

Khoảng hơn 11h00' ngày 02/10/2023, Trần Nam T dùng điện thoại di động số thuê bao 0981381758 của T, gọi điện đến điện thoại di động số thuê bao 0377304564 của Nguyễn Huy K mục đích rủ K đánh bạc hình thức đánh chắn được thua bằng tiền, nhưng K không nghe máy. Khoảng hơn 12h00' cùng ngày, Trần Nam T một mình đi bộ đến nhà K rủ K đánh bạc hình thức đánh chắn và bảo K gọi thêm người để cùng đánh bạc, K đồng ý. Kiểm dùng điện thoại di động số thuê bao 0377304564 của K gọi điện, nhắn tin đến điện thoại di động số thuê bao 0392893302 của Ngô Văn P và điện thoại di động số thuê bao 0944386577 của Trần Ngọc Ú rủ P và Ú đến nhà K đánh chắn, P và Ú đồng ý. Khoảng 13h00' cùng ngày, P và Ú đi bộ đến nhà K để đánh bạc. Kiểm lấy 01 bộ bàn chắn gồm 100 quân bài, 01 đĩa sứ bảo T, P và Ú vào phòng ngủ tầng 01 nhà K đánh bạc. Các bị can ngồi lên 1 chiếc thảm ở nền nhà, K lấy 1 hộp kim loại (dạng hộp bánh) để đựng tiền hồ. Khi ngồi đánh bạc, bên tay phải K là T rồi đến Ú và P. Các bị can chơi đánh bạc và quy định thắng thua như sau: sử dụng bộ bài chắn gồm 100 quân bài chia làm 5 phần bằng nhau, mỗi phần 19 quân bài, còn lẻ 5 quân bài. Người thắng thường gọi là “ù” lấy 5 quân bài để vào 1 phần bài bất kỳ để chọn bài bốc (hay còn gọi là “lọc”) rồi chọn 1 quân bài trong bài bốc để vào 1 trong 4 phần còn lại và ngửa lên để chọn bài cái; người có bài cái sẽ được đánh đầu tiên và chơi hình thức “tứ trụ”, tức ai ù thì cả 3 người còn lại đều phải trả tiền cho người ù. Quy định mỗi “dịch” tương ứng với số tiền 20.000 đồng, cước ù thấp nhất là “xuông” tương ứng với số tiền 40.000 đồng; cước ù “Thông”, “Chì”, “Thiên ù”, “Địa ù”, “Chíu ù”, “ù bòn”, “T3 khai”, “Bạch thủ” đều tương ứng với số tiền 60.000 đồng; các cước ù “ăn bòn”, “Tôm” đều tương ứng với số tiền 80.000 đồng; cước ù “Lèo”, “Bạch thủ chì” tương ứng với số tiền 100.000 đồng; cước ù “Bạch thủ chì”, “2 Tôm”, “Bạch định” tương ứng với số tiền 140.000 đồng; cước ù “Tám đỏ”, “2 lèo” tương ứng với số tiền 160.000 đồng; các cước ù “Thập thành”, “Kính tứ chi”, “Tám đỏ 2 lèo” tương ứng với số tiền 240.000 đồng. Trường hợp ù với nhiều cước thì số tiền được nhận tính theo cước ù lớn nhất cộng với các “dịch” tương ứng của các cước ù nhỏ hơn phía sau. Ngoài ra, khi bị can nào ù cước to tức các cước ù “Bạch định”, “Tám đỏ”, “Kính tứ chi”, “Thập thành”, “Bạch thủ trì”, “2 tôm”, “2 lèo” thì phải bỏ ra ngoài 20.000 đồng cho K tiền địa điểm chơi. Quá trình chơi không có ai cảnh giới, không có ai chuẩn bị lối tẩu thoát khi bị phát hiện, không có ai về trước. Các bị cáo đánh bạc đến hồi 14h15' cùng ngày thì bị tổ công tác của Công an xã U - huyện Đ phát hiện bắt quả tang. Tại thời điểm lực lượng Công an phát hiện có anh Nguyễn Văn V (sinh năm 1982; Nơi thường trú: Đ, U, Đ, Hà Nội) chứng kiến. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa các bị cáo cùng tang vật về trụ sở để đấu tranh làm rõ.

Tại Cơ quan điều tra, các bị can khai nhận:

  • - Nguyễn Huy K chuẩn bị bài chắn, đĩa sứ, 1 vỏ hộp bánh (dạng hộp bằng kim loại) để đựng tiền hồ cho các con bạc đánh bạc tại nhà bị cáo K. Kiểm sử dụng 2.860.000 đồng để đánh bạc. Khi bị Cơ quan Công an bắt thua 500.000 đồng. Số tiền 7.500.000 đồng Cơ quan Công an tạm giữ trên người K, K không sử dụng để đánh bạc, K dùng để đóng học cho con.
  • - Trần Nam T mang theo 1.300.000 đồng để tham gia đánh bạc. Khi bị Cơ quan Công an bắt, thắng 480.000 đồng; T ù to được 1 ván và bỏ ra 20.000 đồng tiền hồ để dưới chiếu bạc.
  • - Ngô Văn P mang theo 1.880.000 đồng để tham gia đánh bạc. Khi bị Cơ quan Công an bắt, thua khoảng 300.000 đồng.
  • - Trần Ngọc Ú mang theo 460.000 đồng để tham gia đánh bạc. Khi bị Cơ quan Công an bắt, thắng khoảng 260.000 đồng; Ú ù to được 1 ván và bỏ ra 20.000 đồng tiền hồ để dưới chiếu bạc.

Đối với anh Nguyễn Văn V tài liệu điều tra xác định ngày 02/10/2023 anh V không tham gia đánh bạc tại nhà K, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với 7.500.000 đồng tạm giữ trong người của Nguyễn Huy K. Kiểm trình bày là tiền cá nhân, K không sử dụng số tiền trên để đánh bạc, mục đích dùng để đóng học cho con. Kết quả xác minh tại địa phương thôn Đ, xã U, huyện Đ, TP Hà Nội: vợ K là chị Hoàng Thị H (sinh năm 1976) đã chết, K hiện một mình nuôi 2 con nhỏ đang đi học. Cơ quan điều tra đã Quyết định xử lý trao trả số tiền trên cho K.

Đối với 6.500.000 đồng, 01 bộ bài chắn 100 quân, 01 đĩa sứ; 04 điện thoại di động, là vật chứng của vụ án, chuyển Toà án nhân dân huyện Đông Anh giải quyết theo thẩm quyền.

Đối với chiếc thảm các bị cáo ngồi để đánh bạc và 01 vỏ hộp dạng vỏ hộp bánh bằng kim loại, khi Cơ quan Công an kiểm tra bắt quả tang, bị văng lộn xộn, Công an xã U đã lập biên bản truy tìm nhưng không thu giữ được.

Tại cáo trạng số 289/CT-VKS ngày 29/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội đã truy tố các bị cáo Nguyễn Huy K, Trần Nam T, Ngô Văn P, Trần Ngọc Ú về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa,

Các bị cáo khai nhận tội như nội dung cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điều 65, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Áp dụng đối với Nguyễn Huy K.

Xử phạt: Nguyễn Huy K từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 30 đến 36 tháng.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điều 65, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Áp dụng đối với Trần Nam T.

Xử phạt: Trần Nam T từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 24 đến 30 tháng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 65, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Áp dụng đối với Ngô Văn PTrần Ngọc Ú.

Xử phạt các bị cáo Ngô Văn PTrần Ngọc Ú từ 8 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 16 đến 20 tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện Đ thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử.

[2] Về hành vi và tội danh: Lời khai nhận tội các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra. Được chứng minh bằng vật chứng của vụ án là số tiền 6.500.000 đồng thu giữ của các bị cáo tại chiếu bạc, 01 bộ bài tú lơ khơ dùng làm công cụ dùng để đánh bạc.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo Nguyễn Huy K, Trần Nam T, Ngô Văn P, Trần Ngọc Ú đã phạm tội đánh bạc. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 ( sửa đổi bổ sung năm 2017).

[3] Về nhân thân, tiền án, tiền sự và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

  • - Về tiền án, tiền sự:
    • + Đối với bị cáo Nguyễn Huy K là bị cáo có 02 tiền án. Các tiền án của bị cáo đã được xoá án tích nên theo quy định tại Điều 69 Bộ luật Hình sự thì bị cáo coi như chưa bị kết án nhưng xác định bị cáo có nhân thân xấu.
    • + Đối với bị cáo Trần Nam T bị cáo có 01 tiền sự. Xác định bị cáo có nhân thân xấu.
    • + Đối với các bị cáo còn lại trong vụ án lần phạm tội này là lần đầu.
  • - Về nhân thân: Xác định các bị cáo còn lại trong vụ án có nhân thân tốt.
  • - Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
    • + Tình tiết tăng nặng: Không
    • + Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn ăn hối cải (Điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017); Các bị cáo Ngô Văn P, Trần Ngọc Ú, Trần Nam T được áp dụng tình tiết giảm nhẹ: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (Điểm i, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017); Các bị cáo Nguyễn Huy KTrần Nam T được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 ( Các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn). Đây là các tình tiết giảm nhẹ cần áp dụng của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Khi lượng hình, Tòa án đã xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo để từ đó có hình phạt tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo, cụ thể:

[4] Về hình phạt:

  • - Hành vi đánh bạc của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng do Nhà nước quản lý, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Các bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị Nhà nước quy định là tội phạm, nhưng các bị cáo vì tham tư lợi vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo nhằm hạn chế các loại tội phạm xâm phạm trật tự công cộng trên địa bàn huyện Đ nói riêng và thành phố Hà Nội nói chung. Tuy nhiên các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, có 3 bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nhiêm trọng. Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy đối với các bị cáo chỉ cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt các bị cáo hình phạt tù trong khung hình phạt nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo, để các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giúp đỡ giám sát của chính quyền địa phương vừa thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nhưng vẫn có tác dụng phòng ngừa chung.
  • - Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định, thì người phạm tội có thể còn bị phạt tiền. Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo trừ bị cáo Nguyễn Huy KTrần Nam T là các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn.

[5] Về biện pháp tư pháp:

Đối với các vật chứng gồm: Số tiền 6.500.000 đồng đồng thu giữ của các bị cáo tại chiếu bạc là tiền sử dụng để đánh bạc cần tịch thu sung nhà nước. Đối với 01 đĩa sứ và 01 bộ bài chắn gồm 100 quân bài là công cụ của các bị cáo dùng để phục vụ việc đánh bạc cần tịch thu, tiêu hủy là đúng theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; Điều 65, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Áp dụng đối với Nguyễn Huy K.
  • - Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; Điều 65, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Áp dụng đối với Trần Nam T.
  • - Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; Điều 65, điểm i s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Áp dụng đối với Ngô Văn PTrần Ngọc Ú.
  • - Căn cứ: Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106, 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331; Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cùng danh mục kèm theo.

Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Huy K, Trần Nam T, Ngô Văn P, Trần Ngọc Ú phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Nguyễn Huy K 13 (mười ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 26 (hai mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội(nơi bị cáo cư trú) để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Xử phạt: Trần Nam T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội(nơi bị cáo cư trú) để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Xử phạt: Ngô Văn P 9 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội(nơi bị cáo cư trú) để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Xử phạt: Trần Ngọc Ú 7 (bẩy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 14 (mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội(nơi bị cáo cư trú) để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Nếu trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Phạt tiền các bị cáo Ngô Văn PTrần Ngọc Ú mỗi bị cáo 10.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài chắn chắn gồm 100 quân bài, 01 đĩa sứ. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước các điện thoại di động thu giữ của các bị cáo.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/12/2023 giữa Công an huyện Đ và Chị cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh)

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 6.500.000 đồng thu giữ của các bị cáo theo Uỷ nhiệm chi ngày 05/12/2023 vào tài khoản số 3949.0.1047882.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.

Các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Đông Anh;
  • - Công an huyện Đông Anh;
  • - Chi cục THADS huyện Đông Anh;
  • - Sở TP Thành phố Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quang Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 285/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 285/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tòa án nhân dân huyện Đông Anh xét xử vụ án Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger