Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

—————————

Bản án số: 285/2024/DS-PT

Ngày: 26-7-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Phương
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Hải Hà
Ông Hồ Minh Tấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nguyên, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Từ Thanh Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 125/2024/TLPT-DS ngày 16 tháng 05 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 67/2024/DS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2024/QĐ-PT ngày 17 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm: 1992; Địa chỉ cư trú: Thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ liên hệ: Số A, N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; xin vắng mặt).
  2. Bị đơn:
    • - Ông Lê Văn T, sinh năm 1964 (có mặt).
    • - Bà Trần Kim L, sinh năm 1966 (có mặt).

    Cùng địa chỉ cư trú: Ấp Ô, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Kim L: Bà Phan Thị Ú, sinh năm 1963; Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Trần Kim L: Ông Ngô Trường S1, sinh năm 1963; Địa chỉ cư trú: Số C đường T, khóm E, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • - Ông Trần Minh H, sinh năm 1976; Địa chỉ cư trú: Số E L, đường T, Phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
    • - Ông Võ Thành V, sinh năm 1983; Địa chỉ cư trú: Số B, ấp R, xã L, huyện C, tỉnh Long An (vắng mặt).
  4. Người kháng cáo: Ông Lê Văn T và bà Trần Kim L (là bị đơn).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo lời trình bày của các bên đương sự và kết quả xét xử sơ thẩm, vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2019, ông Trần Minh H có giao dịch mua bán với ông Võ Thành V và nợ ông Võ Thành V số tiền 600.000.000 đồng. Nhằm đảm bảo thanh toán nợ, ông Trần Minh H đã mượn 04 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 388522, BM 388523 cấp ngày 03/12/2012 và số BR 380366, BR 380367 cấp ngày 30/7/2014 do bà Trần Kim L đứng tên để thế chấp cho ông Võ Thành V. Tại thời điểm này, các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên được bà Trần Kim L, ông Lê Văn T thế chấp tại Ngân hàng để vay số tiền 300.000.000 đồng. Ông Võ Thành V đã đưa thêm cho ông Trần Minh H số tiền 300.000.000 đồng để ông Trần Minh H trả Ngân hàng cho vợ chồng bà Trần Kim L, nhận lại 04 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do quyền sử dụng đất cấp cho cá nhân và hộ gia đình bà Trần Kim L, nên bà Trần Kim L và chồng là ông Lê Văn T đã trực tiếp ký kết hai “Hợp đồng vay tài sản” với ông Võ Thành V tại Văn phòng công chứng Đất Mũi vào ngày 24/3/2020 để nhận vay của ông Võ Thanh V1 số tiền 900.000.000 đồng (một hợp đồng vay số tiền 300.000.000 đồng và một hợp đồng vay số tiền 600.000.000 đồng) và thế chấp cho ông Võ Thành V 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để nhằm mục đích nhận nợ và trả nợ thay cho ông Trần Minh H.

Do ông Võ Thành V nợ ông Nguyễn Văn S số tiền 900.000.000 đồng nên giữa ông Nguyễn Văn S, ông Võ Thành V cùng với bà Trần Kim L, ông Lê Văn T đã có sự thống nhất chuyển giao nghĩa vụ trả nợ vay của bà Trần Kim L, ông Lê Văn T cho ông Võ Thành V sang trả nợ vay cho ông Nguyễn Văn S nên ngày 06/5/2022 ông Võ Thành V với bà Trần Kim L, ông Lê Văn T đã xác lập văn bản chấm dứt hợp đồng vay tài sản tại Văn phòng C, tỉnh Cà Mau. Đồng thời, bà Trần Kim L, ông Lê Văn T ký kết hợp đồng vay tài sản với ông Nguyễn Văn S với nội dung xác lập là bà Trần Kim L, ông Lê Văn T vay của ông Nguyễn Văn S số tiền vốn vay 900.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng kể từ ngày 06/5/2022, lãi suất do các bên tự thỏa thuận và bà Trần Kim L, ông Lê Văn T thế chấp cho ông Nguyễn Văn S 04 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã nêu. Sau khi nhận nợ vay với ông Nguyễn Văn S thì bà Trần Kim L, ông Lê Văn T chỉ trả được số tiền lãi bằng 34.000.000 đồng nên ông Nguyễn Văn S đã khởi kiện bà Trần Kim L, ông Lê Văn T. Quá trình giải quyết vụ án, giữa các bên thỏa thuận được với nhau về nghĩa vụ trả nợ nên ngày 14/3/2023, ông Nguyễn Văn S đã rút đơn khởi kiện.

Bà Trần Kim L, ông Lê Văn T không thực hiện việc trả nợ theo thỏa thuận nên ông Nguyễn Văn S tiếp tục khởi kiện yêu cầu bà Trần Kim L, ông Lê Văn T trả lại số tiền 900.000.000 đồng và 301.652.000 đồng tiền lãi, ông Nguyễn Văn S trả lại cho bà Trần Kim L, ông Lê Văn T 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Bà Trần Kim L cho rằng, ông Trần Minh H nợ tiền ông Võ Thành V, nên bà cho ông Trần Minh H mượn 04 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp cho ông Võ Thành V và từ đó vợ chồng bà đã ký kết hợp đồng vay với ông Võ Thành V vào ngày 24/3/2020. Sau đó, vợ chồng bà có đến Văn phòng công chứng Đất Mũi tỉnh C để ký kết hợp đồng với ông Nguyễn Văn S, sau này bà mới biết là hợp đồng vay tài sản. Nợ giữa vợ chồng bà với ông Trần Minh H do các bên tự thỏa thuận. Riêng phần nợ của ông Nguyễn Văn S bà yêu cầu được trả dần.

Ông Trần Minh H thì xác định là ông nợ tiền ông Võ Thành V, nên ông không đồng ý thanh toán nợ cho ông Nguyễn Văn S.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 67/2024/DS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã quyết định:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn S. Buộc bà Trần Kim L, ông Lê Văn T có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Văn S số tiền 1.201.652.000 đồng và buộc ông Nguyễn Văn S hoàn trả cho bà Trần Kim L, ông Lê Văn T 04 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 388522, BM 388523 cấp ngày 03/12/2012 và số BR 380366, BR 380367 cấp ngày 30/7/2014. Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 02/4/2024, bà Trần Kim L và ông Lê Văn T kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng tuyên bố hợp đồng vay tiền giữa bà Trần Kim L, ông Lê Văn T với ông Võ Thành V vào ngày 24/3/2020 và hợp đồng vay tiền giữa bà Trần Kim L, ông Lê Văn T với ông Nguyễn Văn S vào ngày 06/5/2022 là vô hiệu do giả tạo, đồng thời đình chỉ giải quyết vụ án để chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra để xử lý theo pháp luật hình sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Trần Kim L, ông Lê Văn T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Về nội dung, đề nghị căn cứ Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Kim L, ông Lê Văn T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 67/2024/DS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Kháng cáo của bà Trần Kim L và ông Lê Văn T được thực hiện trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
  2. Xét về quan hệ pháp luật thì giữa nguyên đơn và bị đơn có xác lập giao dịch vay tiền và tranh chấp với nhau về nghĩa vụ hoàn trả. Cấp sơ thẩm đã xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” và áp dụng dụng các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự để giải quyết là có căn cứ.
  3. Xét về nội dung tranh chấp: Việc ông Trần Minh H nợ tiền ông Võ Thành V được vợ chồng bà Trần Kim L, ông Lê Văn T nhận trả nợ thay bằng hình thức xác lập hợp đồng vay và sau đó chuyển giao quyền yêu cầu, nghĩa vụ trả nợ tiền vay cho ông Nguyễn Văn S đều được các bên thống nhất xác lập bằng văn bản, có công chứng chứng thực; số nợ vốn vay cũng được các bên thừa nhận.

    Việc bà Trần Kim L, ông Lê Văn T nhận trả nợ thay cho ông Trần Minh H cũng như việc chuyển giao quyền yêu cầu, chuyển giao nghĩa vụ giữa ông Võ Thành V, ông Nguyễn Văn S với bà Trần Kim L, ông Lê Văn T được xác lập bằng văn bản, được các đương sự thừa nhận là tự nguyện, có sự thống nhất thỏa thuận giữa các bên và phù hợp với quy định tại các Điều 365; 370; 422 của Bộ luật Dân sự. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn để buộc ông Lê Văn T, bà Trần Kim L trả nợ cho ông Nguyễn Văn S số tiền vốn vay 900.000.000 đồng cùng với số tiền lãi được tính theo mức lãi suất 20%/năm là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 280; 440; 463; 466; 468 của Bộ luật Dân sự. Riêng về thời gian tính lãi được xác định đến ngày 20/3/2024 là sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn S và sự tự nguyện này không trái pháp luật. Tuy nhiên, việc tính lãi suất của cấp sơ thẩm có sai sót (áp dụng mức lãi suất 20%/năm nhưng khi thực hiện phép tính lại áp dụng 1,66%/tháng), lẽ ra sau khi đối trừ số tiền lãi đã nộp thì bà Trần Kim L, ông Lê Văn T phải trả 337.000.000 đồng tiền lãi nhưng cấp sơ thẩm chỉ xác định số tiền lãi bằng 335.652.000 đồng, làm giảm đi số tiền lãi mà bị đơn phải trả cho nguyên đơn. Nhưng số tiền lãi chênh lệch không lớn và hoàn toàn có lợi cho bị đơn, nguyên đơn là ông Nguyễn Văn S chấp nhận, không kháng cáo. Từ đó, không điều chỉnh về số tiền lãi, giữ y số tiền lãi mà cấp sơ thẩm đã buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn.

  4. Xét kháng cáo của bà Trần Kim L và ông Lê Văn T cho thấy: Bà Trần Kim L, ông Lê Văn T cho rằng giữa ông Trần Minh H với ông Võ Thành V giao dịch mua bán xăng, dầu trái phép, vi phạm pháp luật hình sự nên các hợp đồng vay tài sản được ký kết giữa bà Trần Kim L, ông Lê Văn T với ông Võ Thành V, ông Nguyễn Văn S là vô hiệu do giả tạo, đồng thời yêu cầu đình chỉ giải quyết vụ án để chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra để xử lý theo pháp luật hình sự.

    Xét về việc xác lập hợp đồng vay thì đều được các bên thực hiện một cách tự nguyện; không bị cưỡng ép hay đe dọa; nội dung giao kết không trái pháp luật và không có sự lừa lối, giã tạo; chủ thể ký kết hợp đồng đều có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự; xác lập hợp đồng bằng văn bản, có công chứng chứng thực nên không có căn cứ để xác định hợp đồng vô hiệu theo quy định tại các Điều từ Điều 117 đến Điều 129 của Bộ luật Dân sự. Ngoài ra, trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm thì ông Lê Văn T, bà Trần Kim L đều không có sự phản ánh về việc mua, bán xăng dầu trái phép giữa ông Võ Thành V với ông Trần Minh H và tại phiên tòa phúc thẩm cũng không cung cấp được bất cứ tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh hành vi vi phạm pháp luật hình sự của ông Võ Thành V và ông Trần Minh H nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Kim L, ông Lê Văn T. Bà Trần Kim L, ông Lê Văn T có quyền yêu cầu đến cơ quan điều tra có thẩm quyền để xem xét và xử lý theo quy định chung của pháp luật.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Trần Kim L cho rằng cấp sơ thẩm đã vi phạm tố tụng nghiêm trọng do không đưa bà Nguyễn Thị Hồng D (vợ của ông Võ Thành V) vào tham gia tố tụng, không thu thập tài liệu, chứng cứ để chứng minh việc mua bán xăng dầu trái phép giữa ông Trần Minh H với ông Võ Thành V; bà Trần Kim L, ông Lê Văn T không có sự nhận tiền của ông Võ Thành V hay ông Nguyễn Văn S nên cấp sơ thẩm áp dụng quy định pháp luật về tranh chấp hợp đồng vay tài sản là không đúng quy định của pháp luật. Thông qua lời khai nhận của ông Trần Minh H thì ông có giao dịch làm ăn với vợ chồng ông Võ Thành V, nhưng khi xác định lượng nợ và lập hợp đồng vay thì chỉ phát sinh giữa ông Võ Thành V với vợ chồng ông Lê Văn T, bà Trần Kim L và hợp đồng này cũng đã được thanh lý. Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết tranh chấp mối quan hệ dân sự về vay tài sản giữa ông Nguyễn Văn S với ông Lê Văn T, bà Trần Kim L thông qua sự thống nhất chuyển giao quyền yêu cầu, chuyển giao nghĩa vụ trả nợ vay được xác lập tại Hợp đồng vay tài sản ngày 06/5/2022, nên không cần thiết phải đưa bà Nguyễn Thị Hồng D là vợ của ông Võ Thành V vào tham gia tố tụng. Đồng thời, thông qua diễn biến sự việc và việc các bên xác lập hợp đồng vay tài sản thì không có căn cứ để công nhận lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trần Kim L.

  5. Từ những cơ sở trên, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn T và bà Trần Kim L. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 67/2024/DS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
  6. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là phù hợp nên được chấp nhận.
  7. Ông Lê Văn T là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm; bà Trần Kim L phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định chung.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

    Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông Lê Văn T và bà Trần Kim L. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 67/2024/DS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

  2. Căn cứ vào các Điều 26, 147, 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

    Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn S. Buộc bà Trần Kim L và ông Lê Văn T có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn S số tiền vốn vay và lãi suất tổng cộng bằng 1.201.652.000 đồng (một tỷ hai trăm lẻ một triệu sáu trăm năm mươi hai nghìn đồng).

    - Buộc ông Nguyễn Văn S trả lại cho bà Trần Kim L, ông Lê Văn T 04 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản gốc) số BM 388522, BM 388523 cấp ngày 03/12/2012 và số BR 380366, BR 380367 cấp ngày 30/7/2014 do bà Trần Kim L đứng tên.

    Kể từ ngày ông Nguyễn Văn S yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong số tiền phải trả thì bà Trần Kim L và ông Lê Văn T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

    - Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: bà Trần Kim L và ông Lê Văn T phải chịu 48.050.000 đồng. Ông Nguyễn Văn S được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí là 22.193.000 đồng tại biên lai thu số 0007134 ngày 26/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời.

  3. Án phí dân sự phúc thẩm bà Trần Kim L phải chịu 300.000 đồng được đối trừ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 300.000 đồng tại Biên lai thu tiền số 0004786 ngày 02/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, nay chuyển thu. Ông Lê Văn T được miễn án phí dân sự phúc thẩm và được hoàn lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 300.000 đồng tại Biên lai thu tiền số 0004785 ngày 02/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời;
  • - Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Phương

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG

XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Minh T1 – Hoàng Thị Hải Hà

Nguyễn Thế P

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời;
  • - Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 285/2024/DS-PT ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 285/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 02/4/2024, bà Trần Kim L và ông Lê Văn T kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng tuyên bố hợp đồng vay tiền giữa bà Trần Kim L, ông Lê Văn T với ông Võ Thành V vào ngày 24/3/2020 và hợp đồng vay tiền giữa bà Trần Kim L, ông Lê Văn T với ông Nguyễn Văn S vào ngày 06/5/2022 là vô hiệu do giả tạo, đồng thời đình chỉ giải quyết vụ án để chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra để xử lý theo pháp luật hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Trần Kim L, ông Lê Văn T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger