Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 285/2024/HS-ST

Ngày 24-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Hữu Long.
  2. Bà Nguyễn Thị Tạc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phạm Việt Bắc - Kiểm sát viên.

Ngày 24/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 280/2024/TLST-HS ngày 13/9/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 281/2024/QĐXXST-HS ngày 13/9/2024 đối với các bị cáo:

1./ Họ và tên: Y R Mlô; Tên gọi khác: Không - Sinh ngày 19 tháng 02 năm 2007, tại tỉnh Đắk Lắk.

Nơi cư trú: Buôn K, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Ê đê; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Y Čun N (Đã chết); con bà: H Muih M1, sinh năm: 1982; Gia đình bị cáo có 05 anh, em ruột, bị cáo là con đầu; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

2./ Họ và tên: Lê Lâm N1; Tên gọi khác: Không - Sinh ngày: 18 tháng 3 năm 1999, tại tỉnh Đắk Lắk.

Nơi cư trú: Thôn H, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Tấn T, sinh năm:1955; con bà Lê Thị Thu T1, sinh năm:1969; Gia đình bị cáo có 02 chị, em ruột, bị cáo là con út; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 18/8/2020 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk quyết định áp dụng giáo dục tại xã, về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngày 01/02/2021, bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đắk Lắk quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 21/9/2022 chấp hành xong.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/7/2024. Ngày 14/8/2024, bị cáo được Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk quản lý theo Quyết định số 178/QĐ-QLNN của UBND xã E. Ngày 30/8/2024, bị cáo bị Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Đắk Lắk áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 22 tháng theo Quyết định số 13/2024/QĐ-TA. Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Đại diện hợp pháp của bị cáo Y R Mlô: Bà H M Mlô, sinh năm 1982 (Có mặt)

Địa chỉ: Buôn K, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

- Người bào chữa cho bị cáo Y R Mlô: Bà Hoàng Thị T2 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ. (Có mặt)

Địa chỉ: C L, phường T, Thành phố B, Đắk Lắk.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị T3 (Đã chết)

- Đại diện hợp pháp của bị hại:

  • + Ông Lê Thanh Bảo L, sinh năm 2004 (Có mặt)
  • + Bà Lê Thanh Bảo N2, sinh năm 2001 (Có mặt)

Địa chỉ: Số A Đ, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Nguyễn Mỹ D, sinh năm 1970 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số I H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

  • + Bà Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1998 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số A T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

- Người làm chứng:

  • + Bà Hồ Thị Ngọc H, sinh năm 2003 (Có mặt)

Địa chỉ: Hẻm A đường A, Tổ dân phố B, phường E, Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

  • + Ông Mai Võ Công T4, sinh năm 1980 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số C H, phường T, Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 21/9/2023, Y R Mlô và Lê Lâm N1 đến Nhà nghỉ số 109 đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thuê phòng số 11 để ở. Đến khoảng 18 giờ 00 phút ngày 24/9/2023, N1 đi đến khu vực cuối đường P, thành phố B mua ma tuý đá của một người phụ nữ (chưa xác định nhân thân lai lịch) rồi mang ma tuý đá về phòng số 11 tại Nhà nghỉ. Tại đây, N1 bỏ ma tuý đá vào tẩu bằng thuỷ tinh, dùng lửa đốt và hút, rồi N1 để tẩu có chứa ma tuý ở trên chiếc bàn đặt trong phòng và lên giường nằm nghỉ (chiếc bàn cách chiếc giường khoảng 01 mét). Thấy vậy, Y R cũng đi đến cầm tẩu có chứa ma tuý rồi hút rồi lên giường nằm nghỉ cùng với N1. Đến khoảng 03 giờ 00 phút ngày 25/9/2023, do đói bụng nên N1 nói với Y R đi mua bún ăn thì Y R đồng ý và cả hai cùng đi xuống khu vực để xe của Nhà nghỉ 109. Tại đây, N1 đưa chìa khoá xe mô tô biển số 47H1-801.06 cho Y R và nói Y R

chạy xe ra vỉa hè phía trước Nhà nghỉ A1. Khi Y R chạy xe mô tô biển số 47H1-801.06 đến khu vực vỉa hè thì Y R nói N1 điều khiển xe mô tô, nhưng N1 không đồng ý và nói Y R điều khiển xe mô tô chở N1 thì Y R đồng ý điều khiển xe mô tô biển số 47H1-801.06 chở N1 ngồi phía sau. Đến khoảng 03 giờ 15 phút cùng ngày, Y R điều khiển xe mô tô biển số 47H1-801.06 chở N1 ngồi phía sau lưu thông trên đường N thành phố B theo hướng từ đường Đ đến đường T. Khi Y R điều khiển xe mô tô với vận tốc khoảng 60-70km/h đi đến khu vực nơi giao nhau giữa đường N và đường B, thành phố B, đây là đoạn đường thẳng được trải nhựa bằng phẳng, có dải phân cách cứng phân chia hai chiều đường xe chạy, trước khi vào nơi giao nhau có 04 trụ đèn tín hiệu giao thông đang hoạt động với tín hiệu đèn màu vàng nhấp nháy. Cùng lúc này có bà Nguyễn Thị T3 (sinh năm 1976, trú tại: 1 Đ, phường T, thành phố B, đã có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định) điều khiển xe mô tô biển số 47B1-506.32 một mình lưu thông trên đường Bà T5 theo hướng từ đường H đến đường N vào khu vực ngã tư nơi giao nhau giữa đường N và đường Bà T5. Do Y R thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tay lái, không giảm tốc độ khi vào nơi đường giao nhau và không nhường đường cho xe đi đến từ bên phải đến, nên không kịp xử lý đã để phần đầu xe mô tô biển số 47H1-801.06 do Y R điều khiển tông vào phần hông bên trái xe mô tô biển số 47B1-506.32 do bà T3 điều khiển, gây ra vụ tai nạn giao thông. Sau đó, Y R và Lê Lâm N1 đưa bà T3 đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ và bà T3 tử vong sau đó, 02 xe mô tô bị hư hỏng.

Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm các phương tiện, tạm giữ các phương tiện, giấy tờ liên quan và các video ghi lại hình ảnh diễn biến sự việc để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại trước trụ điện T112N BMT N1-5, đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk và thuộc nơi giao nhau (Ngã tư) giữa đường đôi Nguyễn Tất T6 với đường hai chiều Bà T5, thành phố B. Đường đôi Nguyễn Tất T6 có mặt đường được trải nhựa bằng phẳng rộng 26m, chiều đường nơi xảy ra tai nạn thuộc chiều đường bên phải theo hướng từ đường Đ đến đường T, phường T, thành phố B rộng 11,8m, có vạch sơn trắng nét đơn đứt quãng phân chia ba làn đường, làn đường bên phải rộng 4,6m, làn đường giữa rộng 3,6m và làn ngoài cùng rộng 3,6m. Đường Bà T5 có mặt đường được trải nhựa bằng phẳng rộng 10,3m, có vạch sơn màu vàng nét đơn đứt quãng phân chia hai chiều đường, chiều đường bên phải theo hướng từ đường H đến đường L, thành phố B rộng 5,1m, chiều đường bên trái rộng 5,2m. Trước khi đến nơi giao nhau giữa đường đôi Nguyễn Tất T6 với đường Bà T5 có đèn tín hiệu ba màu hoạt động, không có vòng xuyến và không có chướng ngại vật ảnh hưởng đến tầm nhìn của người tham gia giao thông.

- Quá trình khám nghiệm, chọn mép đường bên phải của đường đôi Nguyễn Tất T6 theo hướng từ đường Đ đến đường T, thành phố B làm mép đường chuẩn gồm mép đường giả định tại nơi giao nhau. Tất cả các số đo vào mép đường chuẩn đều được đo vuông góc.

- Chọn gốc trụ điện T112N BMT N1-5 đường đôi Nguyễn Tất T6, thành phố B làm mốc cố định đo vào mép đường chuẩn 0,7m, đo vào mép đường giả định 34m, lấy hướng Bắc làm hướng chuẩn.

- Xe mô tô biển số 47H1-801.06, ký hiệu (1): Lưu thông trên đường N, sau tai nạn xe ngã sang trái, đầu xe quay về hướng B, đuôi xe quay về hướng N, tâm trục bánh trước cách mép đường chuẩn 1,9m, cách mốc cố định 18m, tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn 1,1m.

- Xe mô tô biển số 47B1-506.32, ký hiệu (2): Lưu thông trên đường Bà T5, sau tai nạn xe ngã bên phải, đầu xe quay về hướng B, đuôi xe quay về hướng N, tâm trục bánh trước cách mép đường chuẩn 5,75m và cách tâm trục bánh trước (1) là 4,15m, tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn 4,8m.

- Vết cày xước, ký hiệu (3): Kích thước (6,9 x 0,01)m, thẳng và đứt quãng, tính theo hướng từ đường chọn mép đường chuẩn thì tâm đầu vết cách mép đường chuẩn 3,25m, tâm cuối vết tại tay nắm điều khiển bên trái (1) tiếp giáp với mặt đường.

- Vết cày xước, ký hiệu (4): Kích thước (3,3 x 0,01)m, thẳng và đứt quãng, tính theo hướng từ đường chọn mép đường chuẩn thì tâm đầu vết cách mép đường chuẩn 4,05m, cách tâm đầu vết (3) là 2,1m, tâm cuối vết tại gác chân sau bên phải (2) tiếp giáp với mặt đường.

- Vị trí va chạm ký hiệu (VC): Giữa xe (1) và xe (2) được xác định tại mặt đường nơi giao nhau giữa đường N với đường B, phường T, thành phố B, cách mép đường chuẩn 3,6m, cách mốc cố định là 26,3m, cách mép đường giả định đường bà T5 là 8m, cách tâm trục bánh trước (2) là 6,8m, cách đầu vết (3) là 01m.

Tại phiếu kết quả xét nghiệm ngày 25/9/2023 của Bệnh viện Đ đối với bà Nguyễn Thị T3 thể hiện định lượng E (cồn) là 0.0mmol/L.

Tại các phiếu kết quả xét nghiệm ngày 26/9/2023 của Bệnh viện đa khoa thành phố B đối với Y R Mlô và Lê Lâm N1 cho kết quả: Dương tính với các chất ma túy A và M3.

Tại bản Kết luận giám định tử thi số 220/KLGĐTT-PY ngày 25/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận: Nguyên nhân tử vong của bà Nguyễn Thị T3: Chấn thương sọ não nặng, nhiều thương tích khác do tai nạn giao thông.

Tại bản Kết luận giám định số 2587/KL-KTHS, ngày 29/02/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận đối với 02 tập tin video ghi lại hình ảnh sự việc: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt, ghép nội dung hình ảnh trong tập tin video mẫu cần giám định; Căn cứ vào hình ảnh trong tập tin video mẫu cần giám định: Không xác định được tốc độ của xe mô tô mang biển số 47H1-801.06 và xe mô tô mang biển số 47B1-506.32 ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn.

Tại bản Kết luận giám định số 1454/KL-KTHS ngày 08/7/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: Căn cứ sự phát triển thể chất, sự cốt hoá các xương tay, chân và khung chậu, khám chuyên khoa và kết quả cận lâm sàng, xác định độ tuổi của Y R Mlô tại thời điểm giám định (tháng 7 năm 2024) là từ 17 năm 3 tháng đến 17 năm 9 tháng; Độ tuổi của Y R Mlô tại thời điểm ngày 25/9/2023 là từ 16 năm 5 tháng đến 16 năm 11 tháng.

Tại bản Kết luận giám định số 1317/KL-KTHS ngày 15/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda, mang biển số 47B1-506.32 và xe mô tô nhãn hiệu Honda, mang biển số 47H1-801.06, đều có số máy, số khung không thay đổi.

Quá trình xác minh tại Sở G (GTVT) tỉnh Đắk Lắk xác định: Bà Nguyễn Thị T3 đã được Sở GTVT tỉnh G cấp Giấy phép lái xe hạng A1, số: [...], ngày trúng tuyển: 21/4/2005, ngày cấp: 10/7/2016, có giá trị đến: Không thời hạn. Trong thời gian vào ngày 25/9/2023, Giấy phép lái xe này không bị Cơ quan có thẩm quyền nào tạm giữ hay tước quyền sử dụng.

Cáo trạng số 295/CT-VKS TP BMT ngày 13/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Y R Mlô về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a, b Khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự; Truy tố bị cáo Lê Lâm N1 về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Y R Mlô thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và đúng theo nội dung Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố.

Người bào chữa cho bị cáo Y R Mlô - bà Hoàng Thị T2 trình bày.

Bị cáo Y R Mlô có hoàn cảnh khó khăn: Bố bị cáo mất sớm, gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con đầu, mẹ bị cáo có đơn xin xác nhận hoàn cảnh khó khăn. Bị cáo là người dân tộc Ê đê, học vấn thấp, bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức pháp luật hạn chế. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu. Hành vi của bị cáo là không mong muốn hậu quả làm bị hại chết. Trong quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 2.000.000 đồng. Với tư cách là người bào chữa cho bị cáo, tôi đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự và đề nghị áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật hình sự để xử phạt mức án thấp nhất và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo đi làm có tiền để bồi thường cho gia đình bị hại.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Y R Mlô phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Bị cáo Lê Lâm N1 phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Y R Mlô từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm tù.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Lâm N1 từ 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) đến 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng).

- Các biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 46; Điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 584, 585, 586, 587 và Điều 591 Bộ luật dân sự:

+ Về xử lý vật chứng:

Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố B ra Quyết định xử lý vật chứng trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave S, số máy JC52E4393343, số khung RLHJC5215CY451848, màu đỏ trắng đen, biển số

47B1-506.32 và 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh G cấp ngày 10/7/2016, mang tên Nguyễn Thị T3 cho người đại diện theo pháp luật của bà T3 là chị Lê Thanh Bảo N2 (sinh năm 2001, trú tại: 1 Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, là con gái của bà T3) nhận quản lý, sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Lê Lâm N1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave Anpha, số máy JA39E3033348, số khung RLHJA3927PY419921, màu xanh bạc, biển số 47H1-801.06 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

+ Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo Y R Mlô, Lê Lâm N1 và Đại diện hợp pháp của bị cáo Y R Mlô là bà H Muih Mlô có trách nhiệm liên đới bồi thường chi phí hợp lý cho việc mai táng, cứu chữa, tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 150.000.000 đồng, cụ thể: Bị cáo Y R Mlô và Đại diện hợp pháp của bị cáo Y R Mlô là bà H M Mlô có trách nhiệm bồi thường 75.000.000 đồng. Khấu trừ số tiền 2.000.000 đồng mà bị cáo đã bồi thường. Số tiền còn lại buộc bị cáo Y R Mlô và Đại diện hợp pháp của bị cáo Y R Mlô là bà H Muih Mlô có trách nhiệm bồi thường là 73.000.000 đồng; Bị cáo Lê Lâm N1 có trách nhiệm bồi thường 75.000.000 đồng, khấu trừ số tiền 5.000.000 đồng bị cáo đã bồi thường. Số tiền còn lại buộc bị cáo Lê Lâm N1 bồi thường là 70.000.000 đồng.

Đối với xe mô tô biển số 47B1-506.32 và xe mô tô 47H1-801.06 bị hư hỏng, bị cáo Lê Lâm n và chị Lê Thanh Bảo N2 tự sửa chữa và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Các vấn đề khác đề nghị HĐXX chấp nhận như nội dung tại bản Cáo trạng.

Bị cáo; Đại diện hợp pháp của bị cáo không tranh luận nội dung gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Y R Mlô. Đại diện hợp pháp của bị hại không tranh luận nội dung gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi của mình đã thực hiện. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ căn cứ kết luận: Do không tuân thủ đúng quy định về luật giao thông đường bộ nên vào khoảng 03 giờ 15 phút ngày 25/9/2023, nên sau khi Y R Mlô và Lê Lâm N1 sử dụng trái phép chất ma túy (loại Amphetamin (AMP)/Methamphetamin), thì Lê Lâm N1 giao cho Y R Mlô điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave Anpha, màu xanh bạc, biển số 47H1-801.06 (do Nghĩa là chủ sở hữu) chở N1 ngồi sau, lưu thông trên đường N thành phố B theo hướng từ đường Đ đến đường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Khi Y R điều khiển xe mô tô biển số 47H1-801.06 với vận tốc khoảng 60-70km/h đi đến khu vực nơi giao nhau giữa đường N và đường Bà T5, thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Y R Mlô đã thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tay lái, không giảm tốc độ

khi vào nơi đường giao nhau cùng mức và không nhường đường cho xe đi đến từ phía bên phải đến, nên đã để phần đầu xe mô tô biển số 47H1-801.06 tông vào phần hông bên trái xe mô tô biển số 47B1-506.32 do bà Nguyễn Thị T3 điều khiển lưu thông trên đường Bà T5 theo hướng từ đường H đến đường N, thành phố B, gây ra tai nạn giao thông. Hậu quả làm bà Nguyễn Thị T3 tử vong, 02 phương tiện bị hư hỏng. Hành vi trên của Y R Mlô đã phạm vào khoản 3, Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1; khoản 7, khoản 23 Điều 8; khoản 1 Điều 24 Luật Giao thông đường bộ; Hành vi của Lê Lâm N1 đã vi phạm vào khoản 10 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Hành vi của các bị cáo gây hậu quả làm 01 người chết.

Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Y R Mlô về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a, b Khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự; Truy tố bị cáo Lê Lâm N1 về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

  • Làm chết người

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

  • Không có giấy phép lái xe theo quy định;
  • Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma tuý hoặc chất kích thích mạnh khác”.

Điều 264 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào giao cho người mà biết rõ người đó không có giấy phép lái xe hoặc đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy, chất kích thích mạnh khác hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:

  • Làm chết người”.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Y R Mlô là tội phạm rất nghiêm trọng; Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Lâm Nghĩa 1 tội phạm ít nghiêm trọng. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, không tuân thủ các quy định về an toàn giao thông đừng bộ, hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây thiệt hại đến tính mạng của bị hại đồng thời xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Hành vi nói trên của Y R Mlô đã phạm vào khoản 3, Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1; khoản 7, khoản 23 Điều 8; khoản 1 Điều 24 Luật Giao thông đường bộ;

Hành vi của Lê Lâm N1 đã vi phạm vào khoản 10 Điều 8 Luật giao thông đường bộ, hành vi của các bị cáo gây hậu quả làm 01 người chết. Do vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi do các bị cáo gây ra thì mới có tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo Y R Mlô có nhân thân tốt; bị cáo Lê Lâm N1 có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại; Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Khi phạm tội, bị cáo Y R Mlô là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; Bị cáo Y R Mlô là người đồng bào dân tộc thiểu số, có trình độ học vấn thấp; bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn được địa phương xác nhận; Bị cáo Lê Lâm N1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Y R Mlô; áp dụng điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Lê Lâm N1.

Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Y R Mlô như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này trong tình hình xã hội hiện nay.

Đối với bị cáo Lê Lâm N1, hiện nay đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 22 tháng theo Quyết định số 13/2024/QĐ-TA, ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Vì vậy, nên việc áp dụng hình chính là phạt tiền quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo Lê Lâm N1 và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[5] Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 46; Điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 584, 585, 586, 587 và Điều 591 Bộ luật dân sự:

[5.1] Về xử lý vật chứng:

Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố B ra Quyết định xử lý vật chứng trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave S, số máy JC52E4393343, số khung RLHJC5215CY451848, màu đỏ trắng đen, biển số 47B1-506.32 và 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh G cấp ngày 10/7/2016, mang tên Nguyễn Thị T3 cho người đại diện theo pháp luật của bà T3 là chị Lê Thanh Bảo N2 (sinh năm 2001, trú tại: 1 Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, là con gái của bà T3) nhận quản lý, sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Lê Lâm N1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave Anpha, số máy JA39E3033348, số khung RLHJA3927PY419921, màu xanh bạc, biển số 47H1-801.06 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

[5.2] Quá trình truy tố và tại phiên tòa đại diện của bị hại yêu cầu các bị cáo có trách nhiệm liên đới bồi thường tổng cộng số tiền: 150.000.000 đồng, cụ thể các khoản như sau: Tiền viện phí: 650.000 đồng; Tiền xe cấp cứu đưa bị hại về nhà: 3.000.000 đồng; Chi phí mai táng: 60.000.000 đồng; T7 tổn thất tinh thần là: 86.350.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của các bị cáo gây thiệt hại đến tính mạng người bị hại nên cần bồi thường các khoản chi phí hợp lý theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, trong vụ án này bị cáo Y R Mlô là người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nên căn cứ khoản 2 Điều 586 Bộ luật dân sự thì mẹ bị cáo là bà H Muih Mlô phải có trách nhiệm cùng bồi thường với bị cáo. Căn cứ các thiệt hại thực tế xảy ra nên áp dụng Điều 591 Bộ luật dân sự để xác định các khoản bồi thường như sau:

  • + Tiền xe cấp cứu đưa bị hại về nhà: 3.000.000 đồng
  • + Chi phí mai táng: 60.000.000 đồng;
  • + Tiền viện phí: 650.000 đồng;
  • + Tiền tổn thất tinh thần: 86.350.000 đồng (Tương đương 36,9 tháng lương tối thiểu tính theo mức lương cơ sở là 2.340.000 đồng/tháng).

Tổng số tiền bồi thường là: 150.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Lê Lâm Nghĩa 1 chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô mang biển số 47H1-801.06. Việc bị cáo Y R Mlô điều khiển xe gây tai nạn có lỗi của Lê Lâm N1.

Từ những nhận định trên, xét thấy cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu bồi thường của đại diện hợp pháp của bị hại:

Buộc các bị cáo Y R Mlô, Lê Lâm N1 và Đại diện hợp pháp của bị cáo Y R Mlô là bà H Muih Mlô cùng có trách nhiệm liên đới bồi thường số tiền 150.000.000 đồng chi phí mai táng, viện phí, tổn thất tinh thần cho Đại diện hợp pháp của bị hại là ông Lê Thanh Bảo L, bà Lê Thanh Bảo N2. Theo đó:

Bị cáo Lê Lâm N1 có trách nhiệm bồi thường 75.000.000 đồng, khấu trừ số tiền 5.000.000 đồng mà bị cáo đã bồi thường, buộc bị cáo Lê Lâm N1 bồi thường số tiền 70.000.000 đồng chi phí mai táng, viện phí, tổn thất tinh thần cho Đại diện hợp pháp của bị hại là ông Lê Thanh Bảo L, bà Lê Thanh Bảo N2.

Bị cáo Y R Mlô, bà H M Mlô có trách nhiệm liên đới bồi thường số tiền 75.000.000 đồng, khấu trừ số tiền 2.000.000 đồng mà bị cáo đã bồi thường. Số tiền còn lại buộc bị cáo Y R Mlô, bà H M Mlô có trách nhiệm liên đới bồi thường là 73.000.000 đồng chi phí mai táng, viện phí, tổn thất tinh thần cho Đại diện hợp pháp của bị hại là ông Lê Thanh Bảo L, bà Lê Thanh Bảo N2.

Về phương tiện hư hỏng: Đối với xe mô tô biển số 47B1-506.32 và xe mô tô 47H1-801.06 bị hư hỏng, bị cáo Lê Lâm n và chị Lê Thanh Bảo N2 tự sửa chữa và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

[6] Các vấn đề khác:

Trong vụ án này, đối với bà Nguyễn Thị T3 đã có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định, không sử dụng chất có cồn và điều khiển xe mô tô biển số 47B1-506.32 tham gia giao thông đi đúng chiều đường, khi đến nơi giao nhau đã giảm tốc độ và dừng lại trước khi xảy ra tai nạn giao thông, nên bà T3 không có lỗi trong

vụ tai nạn trên. Ngoài ra, đối với việc bà Nguyễn Thị T3 mua chiếc xe mô tô biển số 47B1-506.32 nhưng không làm thủ tục đăng ký sang tên chủ sở hữu xe là vi phạm theo quy định tại Điểm a, Khoản 4, Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, ngày 30/12/2019 của Chính phủ, nhưng sau vụ tai nạn bà T3 đã tử vong nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không đề cập xử lý đối với bà T3, là có căn cứ.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Lâm N1 và Y R Mlô là vi phạm quy định tại khoản 1, Điều 23, Nghị định 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021, nên Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ đề nghị Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” bằng hình thức “Phạt cảnh cáo”, là phù hợp.

Đối với người phụ nữ bán ma tuý cho Lê Lâm N1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên tách ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

[7] Về án phí: Các bị cáo Y R Mlô, Lê Lâm N1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Các bị cáo Y R Mlô, Lê Lâm N1, đại diện hợp pháp của bị cáo Y R Mlô là bà H M Mlô phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

Bị cáo Y R Mlô phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Bị cáo Lê Lâm N1 phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”;

  1. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 91; Điều 98, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự.
    • - Xử phạt bị cáo Y R Mlô 02 (Hai năm) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.
    Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự.
    • - Xử phạt bị cáo Lê Lâm N1 số tiền là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
  2. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 46; Điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 584, 585, 586, 587 và Điều 591 Bộ luật dân sự:
    • + Về xử lý vật chứng:

    Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố B ra Quyết định xử lý vật chứng trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave S, số máy JC52E4393343, số khung RLHJC5215CY451848, màu đỏ trắng đen, biển số 47B1-506.32 và 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh G cấp ngày 10/7/2016, mang tên Nguyễn Thị T3 cho người đại diện theo pháp luật của bà T3 là chị Lê Thanh Bảo N2 (sinh năm 2001, trú tại: 1 Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, là con gái của bà T3) nhận quản lý, sử dụng.

    Trả lại cho bị cáo Lê Lâm N1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave Anpha, số máy JA39E3033348, số khung RLHJA3927PY419921, màu xanh bạc, biển số 47H1-801.06 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

    • + Về trách nhiệm dân sự:

    Buộc bị cáo Lê Lâm N1 có trách nhiệm bồi thường 75.000.000 đồng, khấu trừ số tiền 5.000.000 đồng mà bị cáo đã bồi thường, buộc bị cáo Lê Lâm N1 bồi thường số tiền 70.000.000 đồng chi phí mai táng, viện phí, tổn thất tinh thần cho Đại diện hợp pháp của bị hại là ông Lê Thanh Bảo L, bà Lê Thanh Bảo N2.

    Buộc bị cáo Y R Mlô, bà H M Mlô có trách nhiệm liên đới bồi thường số tiền 75.000.000 đồng, khấu trừ số tiền 2.000.000 đồng mà bị cáo đã bồi thường, buộc bị cáo Y R Mlô, bà H M Mlô có trách nhiệm liên đới bồi thường 73.000.000 đồng tiền chi phí mai táng, viện phí, tổn thất tinh thần cho Đại diện hợp pháp của bị hại là ông Lê Thanh Bảo L, bà Lê Thanh Bảo N2.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

    • + Về phương tiện hư hỏng: Đối với xe mô tô biển số 47B1-506.32 và xe mô tô 47H1-801.06 bị hư hỏng, bị cáo Lê Lâm n và chị Lê Thanh Bảo N2 tự sửa chữa và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Lê Lâm N1 phải nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm và 3.500.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    Buộc bị cáo Y R Mlô phải nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm. Buộc bị cáo Y R Mlô, bà H M Mlô phải chịu 3.650.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

    “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TANDTC;
  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND TP. Buôn Ma Thuột;
  • - Công an TP. Buôn Ma Thuột;
  • - Chi cục THADS TP. Buôn Ma Thuột;
  • - THA phạt tù (để thi hành);
  • - Bị cáo; bị hại; Người liên quan;
  • - Lưu Hồ sơ, văn phòng.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 285/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 285/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger