|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 285/2025/HSPT
Ngày 15 tháng 4 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Nam;
- Các Thẩm phán: Ông Ngô Tự Học;
Ông Nguyễn Mạnh Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thanh Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Hà Duy Thảo, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1382/2024/TLPT-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024 do có kháng cáo của các bị cáo Giàng A T và Giàng A D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.
Các bị cáo có kháng cáo:
-
Giàng A D, sinh ngày 01/3/1996 tại Điện Biên; ĐKHKTT và chỗ ở: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên. Giới tính: Nam; Dân tộc; H'Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: Tự do. Đảng phái: Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam – Đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 63–QĐ/UBKTHU ngày 06/6/2024 của Ủy ban kiểm tra huyện ủy M1, tỉnh Điện Biên.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Con ông: Giàng A T1, sinh năm 1968; Con bà: Sùng Thị S, sinh năm 1969. Cùng trú tại: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên.
- Bị cáo có vợ: Hờ Thị D1, sinh năm 1996 (đã ly hôn).
- Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2014.
- Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.
-
Giàng A T, sinh ngày 01/01/1984 tại Điện Biên; ĐKHKTT và chỗ ở: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên; Giới tính: Nam; Dân tộc: H'Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hoá: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không;
- Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
- Con ông: Giàng A H (đã chết); Con bà: Phàng Thị M (đã chết).
- Bị cáo có vợ: Vàng Thị N, sinh năm 1994; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2020, hiện trú tại: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên.
- Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Giàng A D: Bà Hoàng Thị Diễm H1 – Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Giàng A T: Bà La Thị Huyền T2 – Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.
- Người phiên dịch cho bị cáo Giàng A T: Bà Giàng Thị P - Địa chỉ: Số F, đường T, tổ B, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra còn có một số bị cáo khác, do không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 6/2023, có một người đàn ông giới thiệu tên là P1 ở bên nước Lào gọi điện cho Giàng T3 qua W, giới thiệu là quen với Sùng H2 nhà ở huyện S, tỉnh Lào Cai (là người quen của T3), nên thỉnh thoảng T3 và P1 gọi điện cho nhau. Tháng 11/2023, P1 gọi điện cho T3 bảo đến khu vực xã C sẽ có người đàn ông đem 04 bánh ma tuý đưa cho T3, khi nào có người mua thì đem bán, P1 trả cho T3 05 triệu đồng/01 bánh. Sau đó có một người đàn ông gọi điện cho T3 hẹn gặp ở khu vực xã C, huyện B để nhận ma tuý, T3 một mình đi xe mô tô đến xã C gặp người đàn ông đi xe wave màu đỏ, không biết tên tuổi, địa chỉ nhận 01 túi nilon màu xanh bên trong có 04 bánh ma tuý, đem về nhà cất giấu ở tủ quần áo trong phòng ngủ của T3.
Ngày 27/4/2024, P1 gọi điện cho T3 bảo hôm nay ở nhà có người đến mua ma tuý. Sau đó có một người đàn ông gọi điện cho Giàng Thị X qua mạng facebook giới thiệu tên là P2 và giới thiệu cho X làm quen với Giàng T3, bảo X lấy ma tuý ở chỗ T3 đem bán cho P2 với giá 100 triệu/01 bánh, nếu bán được P2 sẽ cho X 10 triệu đồng, tiền bán ma tuý cầm về đưa cho T3 để đưa cho P2, X đồng ý và gửi tài khoản Wechat cho P2 gửi cho Giàng T3 kết bạn để trao đổi mua bán ma túy. Sau khi kết bạn được với T3, X gọi điện qua W cho T3 hỏi có ma tuý bán không, T3 nói có 04 bánh ma tuý đang cất giấu ở nhà, X bảo cho xem mẫu ma tuý, T3 đồng ý và hẹn gặp ở thôn N, xã B để xem mẫu. Sau đó, X gặp bạn là Hầu Seo S1, sinh ngày 15/12/1992, trú tại thôn N, xã C, huyện B tại khu V, thành phố L rủ S1 cùng đi xem mẫu ma tuý với X, S1 đồng ý và đi xe mô tô chở X đến điểm hẹn gặp T3. Tại đây, X giới thiệu S1 với T3 để hai người kết bạn Wechat với nhau, sau đó T3 lấy 01 túi nilon chứa mẫu ma tuý đưa cho S1 và X xem. Sau khi xem xong, X và S1 hẹn T3 sẽ liên lạc sau.
Cũng trong khoảng thời gian này ở Điện Biên, Giàng A D quen biết với người đàn ông qua mạng xã hội facebook tên là C, người này cho D tài khoản facebook của X, bảo D kết bạn với X để mua ma tuý. Dơ sang nhà T hỏi biết ai mua ma tuý không, T nói biết người đàn ông tên Giàng Seo L (cháu họ của T) nhà ở huyện S, tỉnh Lào Cai muốn mua ma tuý. D và T thống nhất cùng nhau sang Lào Cai gặp Là để trao đổi mua bán ma tuý. Ngày 26/4/2024, D đi xe mô tô, biển kiểm soát 27B2 - 179.25 đón Giàng A T cùng đi sang Lào Cai, thuê nhà nghỉ ở thành phố L, tại đây Dơ đã kết bạn với X qua facebook hỏi mua ma tuý, đến ngày 27/4/2024 thì X mới đồng ý kết bạn với D và hẹn gặp ở ngã ba Bản P, Lào Cai để nói chuyện. Dơ đi xe chở T đến điểm hẹn thì gặp X đi cùng một người đàn ông, sau đó người đàn ông này đi đâu Dơ, T không biết, còn D, T và X vào quán ngồi uống nước, X hỏi người mua ma tuý đâu, T gọi điện cho L rồi đưa máy điện thoại cho X nói chuyện và thống nhất giá bán ma tuý là 100 triệu đồng/01 bánh. Sau khi nói chuyện xong với người mua ma tuý, X nói với D và T có 04 bánh ma tuý, bán giá 100 triệu đồng/01 bánh. Lúc này D và T đi sang quán nước bên cạnh, T gọi điện cho L hỏi có mua ma tuý thật không để liên lạc lại cho X biết. Đến chiều L gọi điện cho T đồng ý mua ma tuý và bảo nếu bán được ma tuý sẽ cho T 05 triệu đồng/01 bánh, T và Dơ chia nhau mỗi người 10 triệu đồng. D gọi điện thông báo cho X biết và hẹn 17 giờ cùng ngày sẽ gặp nhau ở ngã ba Bản P để nhận ma tuý, đem bán. Sau đó X gọi điện cho T3 bảo đem ma tuý ra khu vực xã B để bán cho người mua, rồi bảo S1 đi xe chở D đi nhận ma tuý, xong việc X sẽ cho S1 05 triệu đồng tiền công. Khoảng 17 giờ cùng ngày, D và T đến chỗ hẹn thấy X đi cùng người đàn ông lúc trước, D đưa xe cho X và T đi, còn D đi xe cùng S1 đi gặp T3 nhận 01 túi nilon bên trong đựng 04 bánh ma tuý đem đi bán cho người mua, khi đi được một đoạn thì D xuống xe cầm theo ma tuý đi bán cho người mua thì bị Công an bắt giữ còn S1 đi đâu thì D không biết.
Quá trình kiểm tra túi nilon màu xanh có quai xách phát hiện lần lượt 02 túi nilon màu xanh bên trong có 02 bánh hình hộp chữ nhật và 01 túi nilon màu hồng bên trong có 02 bánh hình hộp chữ nhật được cuốn dán băng dính thành cặp, tổng cộng có 04 bánh hình hộp chữ nhật có dán đoạn băng dính màu đen. Kiểm tra xác suất 01 bánh hình hộp chữ nhật bằng cách rạch một đường chữ “V” trên bề mặt thấy bên ngoài là các lớp nilon, giấy chống ẩm, trong cũng chứa chất bột khô, màu trắng được ép thành bánh (Giàng A D, Giàng A T, Giàng Thị X khai nhận 04 bánh hình hộp chữ nhật nêu trên là ma túy, đang trên đường mang đi bán nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.
Quá trình điều tra Giàng Thị X khai tham gia việc mua bán 04 bánh ma tuý còn có Giàng Tú nhà ở xã B, huyện M, ma tuý là của T3 giao cho D đem đi bán. Mở rộng điều tra, Cơ quan điều tra tiến hành bắt khẩn cấp đối với Giàng T3 về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Ngày 28/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh L giám định chất ma tuý, xác định 04 bánh ma túy thu giữ khi bắt quả tang Giàng A D, Giàng A T, Giàng Thị X có tổng khối lượng là 1.402,42 gam.
Tại bản kết luận giám định số 180/KL-GĐMT ngày 02/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 04 bánh ma tuý được ký hiệu từ M1 đến M4 có tổng khối lượng là 1.402,42 gam gửi giám định đều là loại chất ma tuý Heroine (H).
Tại Bản kết luận giám định số 29/KL-GĐĐV ngày 07/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Trên các mẫu vật gửi giám định thu được 02 dấu vết đường vân trên lớp băng dính bọc ngoài hai mành nilon trong suốt đủ yếu tố giám định (ký hiệu là dấu vết số 01, 02); trong đó dấu vết số 01 và dấu vết đường vân ngón cái trái in trên chỉ bản của Giàng A D là của cùng một người và tại Bản kết luận giám định số 48/KL-GĐĐV ngày 15/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Dấu vết số 02 và đầu vết đường vân ngón trỏ trái in trên chỉ bản của Giàng T3 là của cùng một người.
Bản cáo trạng số 37/CT-VKS-P1 ngày 28/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố các bị cáo Giàng T3; Giàng Thị X; Giàng A D và Giàng A T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự.
2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Giàng A D và Giàng A T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 40; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt Giàng A D tử hình. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 40; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt Giàng A T tử hình. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm, quyền kháng cáo và làm đơn xin ân giảm án tử hình gửi Chủ tịch nước theo quy định của pháp luật.
3. Kháng cáo: Ngày 10 và 11/10/2024, bị cáo Giàng A D và bị cáo Giàng A T đều kháng cáo bản án sơ thẩm xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo;
4. Tại phiên tòa phúc thẩm:
- 4.1. Bị cáo Giàng A D và bị cáo Giàng A T giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
-
4.2. Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Bị cáo Giàng A D và bị cáo Giàng A T kháng cáo trong thời hạn luật định nên đề nghị Tòa án xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Trong quá trình tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm, các Thẩm phán thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa và thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Kháng cáo của bị cáo Giàng A D và bị cáo Giàng A T là không có căn cứ, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Giàng A D và bị cáo Giàng A T, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
- 4.3. Người bào chữa cho bị cáo Giàng A D cho rằng bị cáo phạm tội lần đầu, thật thà khai báo, gia đình khó khăn, là người thuộc dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên nhận thức còn nhiều hạn chế, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- 4.4. Người bào chữa cho bị cáo Giàng A T cho rằng bị cáo phạm tội lần đầu, thật thà khai báo, gia đình khó khăn thuộc diện hộ nghèo, là người thuộc dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, bị cáo không biết chữ nên nhận thức còn nhiều hạn chế, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10 và 11/10/2024, bị cáo Giàng A D và bị cáo Giàng A T kháng cáo là trong thời hạn luật định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét, giải quyết yêu cầu kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Giàng A D và bị cáo Giàng A T đều đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã kết luận, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận:
Giàng A D quen biết với Cho qua mạng xã hội facebook, C giới thiệu cho D tài khoản facebook của X, bảo D kết bạn với X để mua ma tuý. Dơ sang nhà T hỏi biết ai mua ma tuý không, T nói biết cháu họ của T tên Giàng Seo L nhà ở huyện S, tỉnh Lào Cai muốn mua ma tuý. D và T thống nhất cùng nhau sang Lào Cai gặp Là để trao đổi mua bán ma tuý. Ngày 26/4/2024, D đi xe mô tô, biển kiểm soát 27B2-179.25 đón Giàng A T cùng đi sang Lào Cai, thuê nhà nghỉ ở thành phố L, tại đây Dơ đã kết bạn với X qua facebook hỏi mua ma tuý, đến ngày 27/4/2024 thì X mới đồng ý kết bạn với D và hẹn gặp ở ngã ba Bản P, Lào Cai để nói chuyện. Dơ đi xe chở T đến điểm hẹn thì gặp X đi cùng một người đàn ông, sau đó người đàn ông này đi đâu Dơ, T không biết, còn D, T và X vào quán ngồi uống nước, X hỏi người mua ma tuý đâu, T gọi điện cho L rồi đưa máy điện thoại cho X nói chuyện và thống nhất giá bán ma tuý là 100 triệu đồng/01 bánh. Sau khi nói chuyện xong với người mua ma tuý, X nói với D và T có 04 bánh ma tuý, bán giá 100 triệu đồng/01 bánh. Lúc này D và T đi sang quán nước bên cạnh, T gọi điện cho L hỏi có mua ma tuý thật không để liên lạc lại cho X biết. Đến chiều L gọi điện cho T đồng ý mua ma tuý và bảo nếu bán được ma tuý sẽ cho T 05 triệu đồng/01 bánh, T và Dơ chia nhau mỗi người 10 triệu đồng. D gọi điện thông báo cho X biết và hẹn 17 giờ cùng ngày sẽ gặp nhau ở ngã ba Bản P để nhận ma tuý, đem bán. Sau đó X gọi điện cho T3 bảo đem ma tuý ra khu vực xã B để bán cho người mua, rồi bảo S1 đi xe chở D đi nhận ma tuý, xong việc X sẽ cho S1 05 triệu đồng tiền công. Khoảng 17 giờ cùng ngày, D và T đến chỗ hẹn thấy X đi cùng người đàn ông lúc trước, D đưa xe cho X và T đi, còn D đi xe cùng S1 đi gặp T3 nhận 01 túi nilon bên trong đựng 04 bánh ma tuý đem đi bán cho người mua, khi đi được một đoạn thì D xuống xe cầm theo ma tuý đi bán cho người mua thì bị Công an bắt giữ và thu giữ được 04 bánh ma túy có tổng khối lượng là 1.402,42 gam.
Các bị cáo Giàng A D và bị cáo Giàng A T là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán ma túy là trái pháp luật, thấy rõ tác hại của ma túy đối với con người và cộng đồng xã hội, nhưng do thiếu ý thức chấp hành pháp luật và muốn kiếm lời bất chính nên các bị cáo đã coi thường pháp luật thực hiện hành vi mua bán trái phép 04 bánh Heroine có khối lượng 1.402,42 gam để kiếm lời. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi này là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy. Hành vi của các bị cáo có tính chất đặc biệt nghiêm trọng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung là “Heroine có khối lượng từ 100 gam trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Giàng A D và bị cáo Giàng A T thì thấy:
- [3.1] Giàng A D là người trực tiếp trao đổi với X mua 04 bánh ma tuý đem đi bán để hưởng 10 triệu đồng tiền công; còn Giàng A T đồng phạm với Giàng A D với vai trò là người giúp sức tích cực trong việc tìm người mua ma túy để D đem bán lấy tiền công chia nhau mỗi người hưởng 10 triệu đồng. Nên các bị cáo cùng phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán 1.402,42 gam Heroine.
- [3.2] Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; các bị cáo đều là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; nhưng khối lượng ma túy mà các bị cáo đã mua bán là đặc biệt lớn. Nên căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm xét thấy việc giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo là không còn tác dụng, cần thiết phải loại bỏ vĩnh viễn các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, để thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thời phát huy được tác dụng đấu tranh, ngăn chặn và phòng ngừa tội phạm nói chung; từ đó, tuyên phạt “Tử hình” đối với bị cáo Giàng A D và bị cáo Giàng A T là phù hợp, tương xứng với hành vi, mức độ phạm tội của các bị cáo.
- [3.3] Tại Tòa án cấp phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận về hành vi phạm tội của mình, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho rằng nếu xử phạt bị cáo thì phải xử phạt đối tượng Giàng Seo L trước. Người bào chữa cho các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình các bị cáo, các bị cáo đều là những người có nhân thân tốt, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên khả năng hiểu biết còn nhiều hạn chế để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Xét thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, khối lượng ma tuý các bị cáo mang đi mua bán là đặc biệt lớn, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo hình phạt “Tử hình” là phù hợp, tương xứng với hành vi, mức độ phạm tội của các bị cáo nên không có căn cứ xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Trên cơ sở đề xuất của đại diện Viện kiểm sát cấp cao tại Hà Nội, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần này. Xong kiến nghị cơ quan điều tra làm rõ vai trò, hành vi của đối tượng Giàng Seo L như lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm để tránh bỏ lọt tội phạm.
[4] Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
QUYẾT ĐỊNH:
-
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Giàng A D và bị cáo Giàng A T; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, cụ thể:
Tuyên bố bị cáo Giàng A D và bị cáo Giàng A T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 40; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt Giàng A D tử hình.
- Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 40; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt Giàng A T tử hình.
Căn cứ vào khoản 4 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Giàng A D và bị cáo Giàng A T để bảo đảm thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo Giàng A D và bị cáo Giàng A T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, các bị cáo Giàng A D và Giàng A T có quyền gửi đơn xin ân giảm án tử hình lên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HÔI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Phan Nam |
Bản án số 285/2025/HSPT ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 285/2025/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: kc
