TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 285/2025/DS-PT Ngày: 14 - 4 - 2025 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh
Các Thẩm phán:
Ông Vũ Đức Toàn
Bà Bùi Thị Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 820/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 11 năm 2025 “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 47/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1886/2025/QĐPT-DS ngày 27 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1968; Địa chỉ: Số H T, L, England.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đỗ Thanh H, sinh năm 1977; địa chỉ: C T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (có mặt).
- Bị đơn:
- Bà Lê Thị H1, sinh năm 1953;
- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1937;
Cùng địa chỉ: số D đường T, khu phố C, phường L,thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1970; Địa chỉ: Số I Khu phố E, phường T, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh (xin xét xử vắng mặt).
Người kháng cáo: Do có kháng cáo của bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 25/11/2022 và bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Do là chỗ bà con, bà Nguyễn Thị Đ gọi ông Nguyễn Văn C là cậu ruột nên năm 2013, bà Nguyễn Thị Đ có cho vợ chồng ông Nguyễn Văn C, Bà Lê Thị Hà M1 số tiền 135.000.000 đồng (một trăm ba mươi lăm triệu đồng). Ngày 15/12/2013, ông Nguyễn Văn C tự tay viết Giấy nợ, với nội dung:
Vợ chồng ông Nguyễn Văn C, bà Lê Thị Hà M1 của bà Nguyễn Thị Đ số tiền 135.000.000 đồng (một trăm ba mươi lăm triệu đồng).
Vợ chồng ông C, bà H1 hẹn sau 08 (tám) năm sẽ trả tiền cho bà Nguyễn Thị Đ, đến ngày 15/12/2021 sẽ trả tiền cho tôi. Việc vay mượn không có lãi. Đến nay đã quá thời hạn trả nợ, đã quá ngày 15/12/2021, bà Nguyễn Thị Đ đã đòi nợ nhiều lần nhưng ông C và bà H1 vẫn chưa chịu trả nợ cho bà Nguyễn Thị Đ.
Bà Nguyễn Thị Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết buộc vợ chồng bà Lê Thị H1 và ông Nguyễn Văn C phải trả cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền 135.000.000 đồng (một trăm ba mươi lăm triệu đồng) và được Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết chuyển đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận vào ngày 23/12/2022 để giải quyết theo thẩm quyền xét xử.
Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết M trình bày:
Tại phiên tòa, ông C1 trình bày tại phiên tòa họ và tên, năm sinh đầy đủ là Nguyễn Văn C, sinh năm 1937.
Bà Nguyễn Thị Đ là cháu ruột gọi ông Nguyễn Văn C bằng cậu. Bà Lê Thị H1 có nhận số tiền 135.000.000đ (một trăm ba mươi lăm triệu đồng) từ bà Nguyễn Thị Đ nhưng là bà Nguyễn Thị Đ cho vợ chồng bà H1 và ông C để nuôi cha ruột của bà Đ tên Nguyễn T (vợ ông T tên Nguyễn Thị L là chị ruột của ông C). Bà Lê Thị H1 có thừa nhận không có ký vào giấy nợ lập ngày 15/12/2013.
Tại biên bản lấy lời khai của đương sự vào ngày 25/5/2023, bà Lê Thị H1 và ông Nguyễn Văn C không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ vì số tiền 135.000.000đ (một trăm ba mươi lăm triệu đồng) là tiền của bà Đ đưa cho vợ chồng bà Lê Thị H1 và Ông Nguyễn Văn C xây nhà vệ sinh để tiện chăm sóc cho cha ruột của bà Nguyễn Thị Đ. Ngoài ra chữ viết, chữ ký của vợ chồng tôi không giống chữ ký viết trong giấy nợ này. Bà Lê Thị H1 yêu cầu Tòa án giám định chữ ký, chữ viết trong giấy nợ lập ngày 15/12/2013. Trong thời hạn 07 ngày bị đơn không nộp đơn yêu cầu giám định và tạm ứng chi phí tố tụng cho Tòa án thì xem như từ chối không có yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết.
- Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 47/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, quyết định:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, 466, 469, 688 Bộ Luật dân sự năm 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ
Buộc ông Nguyễn Văn C, Bà Lê Thị H1 có nghĩa vụ phải trả cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền 135.000.000đồng (một trăm ba mươi lăm triệu đồng)
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định chi phí tố tụng khác, án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 30 tháng 9 năm 2024, bị đơn kháng cáo đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Người kháng cáo có đơn xin xử vắng mặt, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên án sơ thẩm.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đề nghị tòa án chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do giấy vay nợ không phải ông C, bà H1 ký vay.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị H1 nộp đơn kháng cáo trong hạn luật định, có đơn xin xử vắng mặt, nên được xem xét theo thủ tục tố tụng phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và kháng cáo của bị đơn:
Tại đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ và tại bản tự khai của người được ủy quyền là ông Đỗ Thanh H yêu cầu bà Lê Thị H1, ông Nguyễn Văn C trả nợ số tiền cho vay 135.000.000 đồng. Căn cứ khởi kiện là “giấy nợ ghi ngày 15/12/2013 do chính tay ông Nguyễn Văn C viết”, nhưng quá trình giải quyết vụ án cho thấy ông C không biết chữ, kết luận giám định của phòng K Công an tỉnh B ngày 14/8/2024: Không đủ cơ sở kết luận chữ ký tên “hà” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký đứng tên Lê Thị H1 trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M có phải do cùng một người ký hay không phải do cùng một người ký. Chữ viết tên “Lê Thị H1” phía dưới chữ ký trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết đứng tên Lê Thị H1 trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M là không phải do cùng một người viết ra.
Như vậy, tờ giấy nợ được ghi vào ngày 15/12/2013 không phải do bà H1 viết ký, ông C không biết chữ nên không thể tự tay viết và ký vào giấy nợ.
Tuy nhiên, cấp sơ thẩm cho rằng: Bà H1 và ông C thừa nhận đã nhận 135.000.000 đồng từ bà Nguyễn Thị Đ, phù hợp với tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng từ chuyển khoản số tiền gửi ngày 15/06/2010 với số tiền 5.000,00 bảng Anh có tên tài khoản thụ hưởng của bà Lê Thị H1 và ông Nguyễn Văn C, số tiền bảng Anh quy đổi ra tại thời điểm đó tương đương 135.000.000 VND, để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ là phù hợp với thực tế.
Bị đơn thừa nhận đã nhận số tiền 5.000 bảng Anh tương đương 135.000.000 đồng để làm nhà vệ sinh, chăm sóc bố bà Đ nhưng không xuất trình được chứng cứ chứng minh. Nên không có cơ sở chấp nhận đơn kháng cáo của bà H1, ông C. Giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm.
[3] Quan điểm của đại diện viện kiểm sát không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[4] Về án phí: Ông C và bà H1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do là người cao tuổi.
[5] Các nội dung khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn C, bà Lê Thị H1.
- Giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 47/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn C, Bà Lê Thị H1 được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
- Án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án là ngày 14/4/2025.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh |
Bản án số 285/2025/DS-PT ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 285/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án
