|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 285/2024/DS-PT Ngày 29/11/2024 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Lâm Sơn
Các Thẩm phán: Ông Vũ Thế Mạnh
Bà Hoàng Thị Thu Hường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:
Ông Trịnh Văn Đương - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 188/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 59/2024/DS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 251/2024/QĐ-PT ngày 24 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1973; (có mặt)
Địa chỉ: Ấp K, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
Bị đơn: Bà La Thị D, sinh năm 1980; (có mặt)
Địa chỉ: Ấp K, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Việt H, sinh năm 1962; (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
Người kháng cáo: Bà La Thị D - bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn bà Trần Thị N trình bày:
Vào tháng 8 năm 2021 bà Trần Thị N (gọi tắt là bà N) có cho bà La Thị D (gọi tắt là bà D) vay số tiền 75.000.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu đồng), thỏa thuận lãi suất 5%/tháng, không thỏa thuận thời gian trả nợ mà chỉ nói khi nào bà D có tiền thì trả lại. Do là chỗ quen biết nên các bên không có làm giấy tờ biên nhận với nhau.
Sau khi vay tiền bà D không thực hiện việc trả lãi theo thỏa thuận và cũng không trả vốn cho bà N. Bà N1 đã nhiều lần đòi nợ nhưng bà D vẫn không trả nợ.
Thấy bà D không có thiện chí trả nợ nên bà N1 gửi đơn yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết. Vào ngày 14/8/2022, tổ hòa giải ấp Kinh IB, xã Đ đã mời bà N1 và bà D lên hòa giải. Tại buổi hòa giải bà D thừa nhận có nợ của bà N1 số tiền 75.000.000 đồng, bà D trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn xin bà N1 bớt cho 15.000.000 đồng nhưng bà N1 chỉ đồng ý bớt 5.000.000 đồng và yêu cầu phải trả 70.000.000 đồng đồng thời các bên thoả thuận bà D trả nợ trong thời gian 03 năm, cứ 6 tháng trả 11.666.000 đồng. Tuy nhiên từ sau khi hoà giải tại ấp K cho đến nay bà D vẫn không trả nợ cho bà N1.
Tranh tụng tại phiên toà bà N1 xác định bà D là người trực tiếp hỏi vay tiền và nhận tiền vay của bà N1 nên yêu cầu bà D chịu trách nhiệm trả nợ. Còn giữa bà H, bà N1 và bà D không có thõa thuận nào về việc vay tiền nên bà N1 không chấp nhận ý kiến của bà D cho rằng bà H là người có trách nhiệm trả nợ. Đối với ý kiến của bà D cho rằng bà H và bà D đã trả cho bà N1 hơn 100.000.000 đồng tiền lãi là không đúng. Trước khi vay số tiền 75.000.000 đồng bà D cũng có hỏi vay tiền của bà N1 và có đóng lãi được thời gian ngắn nhưng do thời gian cách nay đã lâu bà N1 không còn nhớ rõ là bao nhiêu. Từ khi vay số nợ 75.000.000 đồng thì bà D không đóng lãi và không trả vốn cho đến nay.
Tại phiên tòa bà N1 chỉ yêu cầu bà D trả số tiền vay còn nợ là 75.000.000 đồng và không yêu cầu phải trả tiền lãi cũng như không yêu cầu tính lãi suất chậm trả tiền.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, bà La Thị D không có yêu cầu phản tố và có ý kiến trình bày và đề nghị Toà án như sau:
Đề nghị Toà án bác nội dung khởi kiện của bà N1 về việc yêu cầu bà D trả số tiền vay 75.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh là 21.357.000 đồng, đồng thời buộc bà Nguyễn Việt H (là mẹ của bà D) có nghĩa vụ trả số tiền 75.000.000 đồng cho bà N1.
Trong quá trình tranh tụng tại phiên toà bà D trình bày: bà D là người trực tiếp hỏi vay tiền và nhận tiền vay từ bà N1, việc hỏi vay và nhận tiền vay đều không có mặt bà H, tuy nhiên bà D có nói với bà N1 là bà D hỏi vay tiền dùm cho bà H.
Bà D xác định trong thời gian vay tiền của bà N1 thì bà H và bà D đã trả cho bà N1 hơn 100.000.000 đồng tiền lãi, việc trả lãi đưa tiền trực tiếp và không làm giấy tờ biên nhận gì nên không cung cấp được chứng cứ cho Toà án. Bà D vẫn giữ nguyên ý kiến xác định trách nhiệm trả nợ là của bà H và không đồng ý trả nợ theo yêu cầu của bà N1.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, bà Nguyễn Việt H vắng mặt và có gửi ý kiến trình bày như sau:
Bà Nguyễn Việt H (gọi tắt là bà H) xác định không hỏi vay tiền của bà D, không mượn bà D hỏi vay tiền người khác.
* Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 59/2024/DS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N.
- Buộc bà La Thị D có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị N số tiền 75.000.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu đồng). Việc trả nợ được thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
Ghi nhận ý kiến của bà Trần Thị N không yêu cầu bà Trần Thị D1 phải trả lãi suất tiền vay và lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và báo quyền kháng cáo theo hạn luật định.
* Đơn kháng cáo ngày 09/7/2024 của bị đơn bà La Thị D yêu cầu Tòa án phúc thẩm buộc bà Nguyễn Việt H, sinh năm 1962 trả số tiền vay gốc 70.000.000 đồng cho bà Trần Thị N.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn: Vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, không đồng ý nội dung khởi kiện của nguyên đơn.
- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn bà La Thị D, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ; ý kiến của nguyên đơn, bị đơn, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà H là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có đơn kháng cáo vắng mặt hai lần không lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt họ.
[2] Xét nội dung kháng cáo của D, Hội đồng xét xử xét tại biên bản hòa giải ở ấp K B, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang bà D thừa nhận thiếu bà N số tiền 75.000.000 đồng (bút lục 03). Bà D kháng cáo cho rằng số tiền này bà vay dùm cho bà H, nhưng bà N và cả bà H đều không thừa nhận việc này (bút lục 32, 32b). Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào chứng cứ trong hồ sơ để buộc bà D trả nợ cho bà N số tiền vay gốc 75.000.000 đồng và ghi nhận việc không tính lãi suất số tiền vay là phù hợp pháp luật. Bà D kháng cáo yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà H là mẹ ruột của bà trả số tiền nợ này nhưng không đưa ra được chứng cứ mới chứng minh nên không có cơ sở khách quan để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ cơ sở nhận định trên, trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất không chấp nhận nội dung kháng cáo của bà D, chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát về việc bác nội dung kháng cáo của bà D và giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm, bà D phải chịu nộp tiền án phí phúc thẩm 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn bà La Thị Diệu .
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 59/2024/DS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
Áp dụng Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 463, 466 Bộ luật dân sự 2015; Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N.
- Buộc bà La Thị D có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị N số tiền 75.000.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu đồng). Việc trả nợ được thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
- Ghi nhận ý kiến của bà Trần Thị N không yêu cầu bà Trần Thị D1 phải trả lãi suất tiền vay và lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Về án phí dân sự:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà D1 phải chịu nộp tiền án phí giá ngạch là 3.750.000 đồng (ba triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng).
Nguyên đơn bà N không phải chịu nộp tiền án phí. Hoàn trả cho bà N số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 2.409.000 đồng theo biên lai thu số 0009041 ngày 28/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà D1 phải chịu nộp tiền án phí phúc thẩm 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông C nộp thay bà D1 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003318 ngày 16/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Lâm Sơn |
Bản án số 285/2024/DS-PT ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 285/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyệt kiện bà Diệu
