|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 285/2024/HS-ST Ngày: 21-11-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT – TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thắm
- Ông Lương Thanh Nhàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thiện Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024 tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 312/2024/HSST ngày 04 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 236/2024/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Hồ Minh Tr; sinh năm 1999 tại tỉnh A; tên gọi khác: Tr Nhỏ; HKTT: Ấp C, xã H, huyện M, tỉnh An Giang; trình độ học vấn: 4/12; nghề nghiệp: Làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; cha: Hồ Minh S, sinh năm 1978; Mẹ: Hồ Thị Anh Đ, sinh năm 1977; tiền sự: Không.
Tiền án:
- Ngày 20/7/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát (nay là thành phố Bến Cát), tỉnh Bình Dương, xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 30/3/2018, trị giá tài sản chiếm đoạt là 6.990.000 đồng. Chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Dương đến ngày 03/11/2018 thì chấp hành xong. Đã chấp hành xong án phí ngày 05/5/2020.
- Ngày 19/9/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát (nay là thành phố Bến Cát), tỉnh Bình Dương, xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; 10 (mười) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung 04 (bốn) năm 04 (bốn) tháng tù. Chấp hành án tại Trại giam An Phước đến ngày 01/9/2023 thì chấp hành xong. Chấp hành xong án phí ngày 08/5/2020, chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự.
Nhân thân: Ngày 03/4/2017, bị Công an thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương ra quyết định xử phạt hành chính phạt tiền 1.500.000 đồng đối với hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy thực hiện ngày 06/4/2016. Đã nộp phạt xong ngày 01/3/2018.
Ngày 26/4/2024, Hồ Minh Tr bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã (nay là thành phố) Bến Cát cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Phan Văn D, sinh năm: 2000; địa chỉ: Khu phố 2, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn L, sinh năm: 1975; địa chỉ: Khu phố 7, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
Người đại diện: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm: 1977; địa chỉ: Khu phố 7, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồ Minh Tr là đối tượng có 02 tiền án về tôi trộm cắp tài sản. Sau khi chấp hành xong án tù, Tr đến ở cùng bạn là Trần Minh T, tại phòng trọ số D13, nhà trọ Minh Q, thuộc khu phố 2, phường T, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, để đi làm phụ hồ cùng với Thắt.
Khoảng 00 giờ 45 phút ngày 06/4/2024, Tr nảy sinh ý định tìm tài sản trộm cắp nên đi tìm các phòng trọ tại nhà trọ Minh Q có tài sản sơ hở để trộm. Khi đi ngang qua phòng trọ C10 của anh Phan Văn D thuê ở, Tr phát hiện cửa phòng trọ của anh D chỉ khép hờ, anh D đang năm ngủ dưới nệm trong phòng, bên cạnh có để 01 điện thoại di động hiệu Samsung A33-5G và 01 ví da. Lúc này, Tr quan sát xung quanh thấy không có người nên lén lút đi vào lấy trộm chiếc điện thoại Samsung A33-5G và ví da của anh D bỏ vào túi quần đang mặc rồi đi ra ngoài. Trên đường đi, Tr kiểm tra thấy bên trong ví da có 521.000 đồng (gồm 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng), cùng nhiều giấy tờ tùy thân của anh D. Tr lấy hết số tiền 521.000 đồng bỏ vào túi quần đang mặc, rồi vứt bỏ ví da bên trong có giấy tờ tùy thân của anh D vào bụi tre bên đường thuộc khu phố 2, phường T. Sau đó, Tr đem điện thoại trộm được của anh D đến Cửa hàng điện thoại di động 279, thuộc khu phố 7, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương của Nguyễn Thị Thu Th (sinh năm 1977) làm chủ, cầm được số tiền 2.000.000 đồng. Tiền có được, Tr đã tiêu xài hết.
Đối với anh Phan Văn D, khoảng 03 giờ 00 cùng ngày, anh D thức dậy phát hiện mất 01 điện thoại di động hiệu Samsung A33-5G, 01 ví da bên trong có số tiền 1.100.000 đồng và giấy tờ tùy thân nên báo với chị Đoàn Thị Hồng H là chủ nhà trọ biết. Chị H trích xuất camera thì phát hiện Tr là người lấy trộm nên đã nói với anh T. Đến ngày 22/4/2024, anh T gặp Tr thì Tr dẫn anh T đến vị trí vứt bỏ ví da của anh D nhặt lại giấy tờ tùy thân của anh D, riêng ví da và tiền trong ví đã bị mất. Sau khi nhận lại được giấy tờ tùy thân từ anh T, anh D đã đến Công an phường T trình báo vụ việc. Lực lượng Công an phường T mời Tr làm việc thì Tr đã thừa nhận hành vi trộm điện thoại và ví da của anh Phan Văn D.
Theo Kết luận định giá tài sản số 53/KL – HĐĐGTS ngày 03/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Bến Cát, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A33-5G, màu đen, đã qua sử dụng, trị giá là 4.100.000 đồng; Theo Kết luận định giá tài sản số 76/KL – HĐĐGTS ngày 19/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Bến Cát, kết luận: 01 bóp da, màu đen không có nhãn hiệu đã qua sử dụng, trị giá 00 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 307/CT – VKSBC ngày 31/10/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát truy tố bị cáo Hồ Minh Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo, bị hại đồng ý với Kết luận định giá tài sản và tội danh Viện Kiểm sát truy tố đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.
Tại phiên tòa bị cáo đồng ý đối với toàn bộ Cáo trạng, bản luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[01] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bến Cát, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[02] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Minh Tr đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng số 307/CT-VKSBC ngày 31/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát đã truy tố, đủ cơ sở kết luận:
[2.1] Khoảng 00 giờ 45 phút ngày 06/4/2024, tại phòng trọ số C10, nhà trọ Minh Q, thuộc khu phố 2, phường T, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Hồ Minh Tr đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A33-5G, màu đen trị giá là 4.100.000 đồng và số tiền 521.000 đồng của anh Phan Văn D. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 4.621.000 đồng.
[2.2] Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, tài sản bị thiệt hại có tổng giá trị là 4.621.000 đồng. Bị cáo đã bị xác định là tái phạm theo bản án số 156/2019/HS – ST ngày 19/9/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát (nay là thành phố Bến Cát), đến nay chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, do đó hành vi của bị cáo trong vụ án này được xác định là tái phạm nguy hiểm. Như vậy đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội.
[03] Xét tính chất, mức độ hành vi bị cáo thực hiện: Bị cáo nhận thức được hành vi lén lút đột nhập vào phòng trọ của người khác để trộm cắp tài sản nhằm thu lợi bất chính là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, chơi game mà bất chấp pháp luật để phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến an ninh trật tự công cộng, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến gia đình, công việc cá nhân và hoạt động bình thường nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Đồng thời cũng là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Do đó cần xử lý nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội đồng thời phòng ngừa chung.
[04] Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử phạt hành chính về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy, nhiều lần bị kết án về các tội xâm phạm về sở hữu, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật kém.
[05] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[06] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi được một phần và trả cho bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên cần xem xét áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[07] Về trách nhiệm dân sự: Anh Phan Văn D không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại đối với số tiền bị mất; ông Phạm Văn L không yêu cầu bồi thường đối với số tiền 2.000.000₫ do bị cáo cầm cố điện thoại của anh D.
[08] Vật chứng của vụ án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A33-5G, màu đen là tài sản của anh D, đã trao trả cho anh D. Đối với số tiền bị mất, bị cáo cho rằng trong ví của anh D có số tiền 521.000đ, anh D không thừa nhận, khẳng định là 1.100.000đ. Tuy nhiên anh D không có căn cứ xác định số tiền bị mất là 1.100.000đ, cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.
[09] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Hồ Minh Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù của bị cáo Hồ Minh Tr tính từ ngày 26 tháng 4 năm 2024.
- Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Nga |
Bản án số 285/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 285/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Minh Tr về tội Trộm cắp tài sản
