Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ N

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 285/2023/HSST

Ngày: 16-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Minh Loan

Ông Lê Quang Bảo.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 271/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 271/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Mai Kh; sinh năm 1972 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: số 8/102 đường V, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: lớp 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Duy Đ và bà: Vũ Thị Th; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 09-11-1990, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, ngày 28-8-1993, Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, ngày 13-10-1997, Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, ngày 05-8-1999, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, ngày 02-02-2007, Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, ngày 21-4-2010, Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân, ngày 08-12-2016, Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đều đã được xóa án tích); bị bắt, tạm giữ ngày 10-8-2023, chuyển tạm giam ngày 19-8-2023; có mặt.

Người làm chứng: Ông Hà Phong D và ông Trần Mạnh H (không triệu tập tham gia phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 10-8-2023, tổ công tác Công an phường Trần Quang K thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà 477 đường Gi phường Tr thành phố N phát hiện Vũ Mai Kh đang điều khiển xe máy biển kiểm soát 18E1-1266 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Kh thả từ tay phải xuống đất 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (Kh khai là Heroine mua về để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng, và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Vũ Mai Kh. Ngoài ra còn tạm giữ của Kh 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Wave màu đen xám, biển kiểm soát 18E1-1266, đã cũ.

Bản Kết luận giám định số 1260/KT- KTHS ngày 15-8-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy bạc màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy; loại ma túy: Heroine; khối lượng mẫu: 0,457 (không phảy bốn trăm năm mươi bảy) gam.

Tại Cơ quan điều tra, Vũ Mai Kh khai: Khoảng 12 giờ ngày 10-8-2023, Kh điều khiển xe máy biển kiểm soát 18E1-1266 đến khu vực đường Phan Bội Châu phường Trần Đăng Ninh thành phố N, gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua 1 gói Heroine với giá 300.000 đồng. Kh cầm gói Heroine trên tay phải rồi điều khiển xe máy đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Bản Cáo trạng số 291/CT-VKSTPNĐ ngày 01-11-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Vũ Mai Kh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên toà, bị cáo Vũ Mai Kh khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 33 tháng đến 39 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Mai Kh không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ lời khai của bị cáo Vũ Mai Kh, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, Kết luận giám định số 1260/KT-KTHS ngày 15-8-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 10-8-2023, tại khu vực trước cửa số nhà 477 đường Gi phường Tr thành phố N, Vũ Mai Kh đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,457 gam Heroine mục đích để sử dụng. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại quy định điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N là có căn cứ.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là loại chất gây nghiện Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; hành vi của bị cáo là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án (đã được xóa án tích). Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Số ma túy sau khi giám định hoàn lại là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Wave biển kiểm soát 18E1-1266, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Dương Bích Lộc (là vợ của bị cáo) là đúng quy định của pháp luật.

[6] Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo Vũ Mai Kh phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Mai Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 10-8-2023.

  2. Biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong số 1260/KL-KTHS (chi tiết vật chứng ghi trong biên bản giao nhận vật chứng).
  3. Án phí: Bị cáo Vũ Mai Kh phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Mai Kh được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND TP. Nam Định (02 bản);
  • - Công an TP. Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Lưu hồ sơ vụ án + VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Diện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 285/2023/HSST ngày 16/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 285/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Mai Khanh - TTMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger