TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 285/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 14 - 8 - 2024
“V/v Tranh chấp hôn nhân gia đình"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Trần Quốc Sơn |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Mai Xuân Thường |
| Bà Bùi Thị Hoa |
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Liên, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam, Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 198/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình”
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 146/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐST-HNGĐ ngày 31/7/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1990.
Địa chỉ: xóm X, xã G, huyện T, tỉnh Nghệ An Vắng mặt và có Đơn xin xét xử vắng mặt
*Bị đơn: Anh Trương Văn Á, sinh năm 1989.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm X, xã G, huyện T, tỉnh Nghệ An. Hiện cư trú tại: Đài Loan. Vắng mặt
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị L – sinh năm 1956 (là mẹ đẻ của anh Trương Văn Á)
Địa chỉ: xóm X, xã G, huyện T, tỉnh Nghệ An
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, trình bày tại bản tự khai của nguyên đơn và các tài liệu khác có trong hồ sơ:
Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị N trình bày:
Chị Nguyễn Thị N và anh Trương Văn Á kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Nghệ An vào ngày 29/12/2012. Hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, hai bên thường xảy ra cãi vã. Khoảng năm 2018, thì anh Trương Văn Á đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan, thời gian đầu hai vợ chồng có liên lạc với nhau vì để anh Á nói chuyện với con nhưng sau đó do mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng căng thẳng nên giữa hai bên đã không còn giữ liên lạc nữa. Giữa chị N và anh Trương Văn Á đã không còn tình cảm với nhau, không còn quan tâm đến nhau, hai bên đã sống ly thân một thời gian dài. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thị N làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Văn Á.
Về quan hệ con chung: Hai vợ chồng chị N và anh Á có hai con chung là cháu Trương Bảo K, sinh ngày 17/7/2012 và Trương Bảo K1, sinh ngày 16/5/2017. Hiện nay, hai con chung do chị N chăm sóc, nuôi dưỡng. Ly hôn, chị N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Trương Văn Á cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là anh Trương Văn Á: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, theo thông tin xác minh từ Cục Q cho biết anh Trương Văn Á, sinh ngày 03/9/1989 có hộ khẩu thường trú tại xã G, huyện T, tỉnh Nghệ An đã xuất cảnh ngày 06/9/2022 qua cửa khẩu N1, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N chỉ cung cấp được địa chỉ hộ khẩu thường trú của anh Trương Văn Á trước khi xuất cảnh; Tòa án đã tiến hành xác minh, gửi văn bản yêu cầu bà Nguyễn Thị L (là mẹ đẻ của anh Trương Văn Á) cung cấp địa chỉ, tin tức của anh Trương Văn Á cũng như yêu cầu bà L thông báo với bị đơn để gửi lời khai về cho Tòa án. Tuy nhiên, quá trình Tòa án tiến hành xác minh, làm việc tại nhà bà Nguyễn Thị L, bà L thừa nhận các thông tin như chị Nguyễn Thị N trình bày trong đơn khởi kiện và bản tự khai về quan hệ hôn nhân, quan hệ con chung giữa chị N và anh Á, tuy nhiên bà L không cung cấp được địa chỉ cụ thể, tin tức hiện nay của anh Trương Văn Á cho Tòa án. Đến nay, Tòa án vẫn chưa nhận được văn bản nào thể hiện ý kiến của anh Trương Văn Á liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định gồm tống đạt, niêm yết, xác minh, yêu cầu người thân cam kết thông báo về việc giải quyết vụ án cho bị đơn được biết, vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L: Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị L vắng mặt, tại Biên bản làm việc và biên bản lấy lời khai đề ngày 13/6/2024 của Tòa án tại nhà bà Nguyễn Thị L, địa chỉ: xóm X, xã G, huyện T, tỉnh Nghệ An thể hiện bà Nguyễn Thị L cung cấp các thông tin: anh Trương Văn Á là con trai ruột của bà L và chị Nguyễn Thị N là con dâu. Bà L không nhớ thời gian anh Trương Văn Á và chị N kết hôn, giữa anh Á và chị N có hai con chung như chị N trình bày. Cả hai cháu ở cùng với bà L từ năm 2023 cho đến nay, bà L không yêu cầu vợ chồng anh Trương Văn Á và chị Nguyễn Thị N thanh toán tiền chăm sóc các cháu. Anh Trương Văn Á đi xuất khẩu lao động từ khoảng 4 năm nay, khoảng tháng 7 năm 2023 anh Á có trở về Việt Nam và sau đó anh Á tiếp tục quay trở lại nước ngoài sinh sống và làm việc. Trong thời gian anh Trương Văn Á ở nước ngoài, anh Á thường xuyên liên lạc về với bà L qua phương tiện Facebook, nhưng anh Á không nói cho bà L biết về địa chỉ cư trú hiện nay ở nước ngoài nên bà L không thể cung cấp thông tin địa chỉ cụ thể của anh Á hiện nay cho Tòa án. Bà L cam đoan sẽ thông báo cho anh Trương Văn Á được biết về việc Tòa án đang thụ lý và giải quyết vụ án ly hôn do chị Nguyễn Thị N khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật; Các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng, trong vụ án này nguyên đơn chị Nguyễn Thị N chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của bị đơn mà không cung cấp được địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài. Bị đơn anh Trương Văn Á vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên Tòa án đã tiến hành xác minh theo quy định tại người thân của bị đơn, thực hiện việc cấp tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng đúng quy định. Bà Nguyễn Thị L (mẹ đẻ của bị đơn) đã cam kết sẽ thông báo về việc Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án cho anh Trương Văn Á được biết nhưng đến nay bị đơn vẫn không gửi lời khai về cho Tòa án. Do đó có căn cứ xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, có cơ sở đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Trương Văn Á. Về con chung: do anh Trương Văn Á có thông tin đã đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài hiện không rõ địa chỉ nơi cư trú, vì vậy đề nghị giao hai con chung là cháu Trương Bảo K, sinh ngày 17/7/2012 và Trương Bảo K1, sinh ngày 16/5/2017 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: nguyên đơn không yêu cầu nên miễn xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét; cần tuyên giành quyền khởi kiện về quan hệ tài sản cho các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị N và anh Trương Văn Á, trong đó cả nguyên đơn, bị đơn đều có hộ khẩu thường trú tại xã G, huyện T, tỉnh Nghệ An; theo thông tin do Cục Q cung cấp: anh Trương Văn Á đã xuất nhập cảnh 03 lần, lần cuối xuất cảnh ngày 06/9/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Như vậy, vụ án có yếu tố nước ngoài, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có Đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Trương Văn Á vắng mặt, đến nay Tòa án chưa nhận được văn bản trình bày ý kiến nào của bị đơn. Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng tại địa chỉ nơi trú cuối cùng trước khi xuất cảnh của anh Trương Văn Á theo đúng quy định pháp luật, xác minh yêu cầu người thân của bị đơn cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Tòa án. Tuy nhiên, theo trình bày của bà Nguyễn Thị L (là mẹ đẻ của anh Trương Văn Á), có địa chỉ cư trú tại: xóm X, xã G, tỉnh Nghệ An, được biết: thời gian sinh sống làm việc ở nước ngoài, anh Trương Văn Á thường xuyên liên lạc về với bà L thông qua mạng xã hội (facebook) nhưng anh Á không nói cho bà biết về địa chỉ cụ thể nơi cư trú hiện nay ở nước ngoài nên bà L không cung cấp được địa chỉ, tin tức của bị đơn như yêu cầu của Tòa án. Vì vậy, có cơ sở coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là hoàn toàn phù hợp, đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[3.1]. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị N và anh Trương Văn Á kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp.
Thời gian đầu vợ chồng chị N, anh Trương Văn Á chung sống hòa thuận, hạnh phúc và có hai con chung. Sau một thời gian chung sống, giữa chị N và anh Á phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau. Năm 2018, anh Trương Văn Á đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, thời gian đầu khi anh Á ở nước ngoài thì giữa hai bên vẫn duy trì liên lạc; tuy nhiên do sống xa cách, khác biệt về quan điểm sống, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng. Giữa chị N và anh Á đã không còn tình cảm với nhau, đã sống ly thân một thời gian dài. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn nên chị N đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trương Văn Á.
Xét thấy, anh Trương Văn Á đi xuất khẩu lao động từ năm 2018, giữa chị N và anh Á đã sống ly thân một thời gian dài, giữa hai bên đã không còn liên lạc, không còn quan tâm đến nhau, không còn tình cảm. Qua xác minh thông tin tại người thân của bị đơn, bà Nguyễn Thị L (mẹ của anh Trương Văn Á) cam đoan sẽ thông báo về việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An hiện đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình giữa chị Nguyễn Thị N và anh Trương Văn Á do có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của chị N cho anh Trương Văn Á được biết. Tuy nhiên, đến nay Tòa án vẫn không nhận được thông tin cũng như ý kiến gì từ bị đơn anh Trương Văn Á. Như vậy, có cơ sở khẳng định giữa chị Nguyễn Thị N và anh Trương Văn Á không còn tình cảm vợ chồng, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N; Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Trương Văn Á.
[3.2]. Về con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Trương Văn Á có có hai con chung là cháu Trương Bảo K, sinh ngày 17/7/2012 và Trương Bảo K1, sinh ngày 16/5/2017. Hiện nay, hai con chung do chị N chăm sóc, nuôi dưỡng. Ly hôn, chị N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Trương Văn Á cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, từ khi anh Trương Văn Á đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài thì chị Nguyễn Thị N là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cả hai con chung. Theo lời khai của chị N thì mẹ con chị sinh sống cùng với bà Nguyễn Thị L (mẹ đẻ của anh Á) tại xã G, huyện T. Những lúc chị N đi làm ăn ở xa thì hai con chung do bà L chăm sóc. Theo bà Nguyễn Thị L thì bà không yêu cầu vợ chồng anh Trương Văn Á và chị Nguyễn Thị N thanh toán tiền chăm sóc nuôi dưỡng các cháu. Mặt khác, hai cháu Trương Bảo K và Trương Bảo K1 có nguyện vọng được ở với mẹ là Nguyễn Thị N nếu bố mẹ các cháu ly hôn. Theo các tài liệu có trong hồ sơ, anh Trương Văn Á hiện nay đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài, không rõ địa chỉ nơi cư trú. Nhằm đảm bảo lợi ích mọi mặt của con, đảm bảo điều kiện học tập và sinh sống, quyền được chăm sóc nuôi dưỡng con của bố mẹ, cần giao cả hai con chung cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con, chị Nguyễn Thị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.3]. Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị N và anh Trương Văn Á không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Giành quyền khởi kiện về tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
[4] Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40; khoản 2, khoản 1 Điều 207, Điều 147 và điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 52 Bộ luật Dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Trương Văn Á;
2. Về con chung: Giao hai con chung là Trương Bảo K, sinh ngày 17/7/2012 và Trương Bảo K1, sinh ngày 16/5/2017 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Trương Văn Á.
Anh Trương Văn Á không trực tiếp nuôi con, có quyền, nghĩa vụ thăm non con chung mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị Nguyễn Thị N (do ông Đậu Đức H nộp thay) đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012838 ngày 14/5/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm. chị Nguyễn Thị N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Anh Trương Văn Á có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Sơn |
Bản án số 285/2024/HNGĐ-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 285/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về hôn nhân gia đình
