Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 285/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09/8/2024

“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Định

Bà Nguyễn Thị Bích Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phan Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 233/2024/HNGĐ-TLST ngày 08/5/2024, về việc “Ly hôn, ”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 322/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/7/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 227/2024/QĐ-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị S, sinh ngày 10/9/1975.

Địa chỉ: Số F B, phường P, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh ngày 17/6/1969.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Số F B, phường P, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

Hiện ở: Cộng hòa Séc.

(Chị S, anh T đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn chị Hoàng Thị S trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T tự do tìm hiểu và chung sống cùng nhau từ năm 1993 tại Hải Dương. Sau khi sinh được hai người con, ngày 21/12/2001 chị và anh T mới đến Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương đăng ký kết hôn. Vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc trong một thời gian dài. Năm 2015 cháu H là con trai của anh chị bị chết, anh T có về Việt Nam để lo công việc cho con, khi đó chị có nói chuyện mong muốn anh T ở lại Việt Nam để vợ chồng đoàn tụ. Tuy nhiên anh T không đồng ý mà tiếp tục sang Cộng hòa Séc lao động. Sau đó chị tìm hiểu thì mới biết anh T đang sống chung cùng với người phụ nữ khác, từ đó hai bên xảy ra mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Về quan hệ con chung: Chị và anh T có 2 con chung là cháu Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1994 (chết năm 2015) và cháu Nguyễn Hoàng H2, sinh năm 1999. Hiện nay cháu H2 đang học tập tại Hàn Quốc, cháu đã trưởng thành, khỏe mạnh. Ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị và anh T có tài sản chung là nhà đất tại số F B, phường P, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Do anh T đang ở nước ngoài nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản.

Về nợ chung: Chị và anh T không có, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị tự nguyện chịu cả án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

- Anh Nguyễn Thanh T hiện đang lao động tại Cộng Hòa S, do chị S không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh T nên Tòa án xác minh địa chỉ của anh T qua gia đình. Bà Nguyễn Thị Kim L là chị gái anh T xác định bố mẹ bà đều đã chết, bà là chị ruột và sinh sống gần nhà anh T, chị S. Anh T đang lao động ở Cộng hòa S, bà không biết địa chỉ của anh T ở nước ngoài, nhưng anh T thỉnh thoảng có liên lạc với bà. Bà L đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh T biết. Thông qua gia đình cũng như tại buổi làm việc với Tòa án, anh T đã trực tiếp gọi điện thoại về và thể hiện quan điểm: Anh và chị S có mâu thuẫn, hai bên không còn tình cảm. Nay chị S có đơn ly hôn, anh đồng ý. Về con chung, anh xác định vợ chồng có 2 con chung là cháu Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1994 (chết năm 2015) và cháu Nguyễn Hoàng H2, sinh năm 1999. Hiện nay cháu H2 đã trưởng thành, khỏe mạnh. Ly hôn anh không đề nghị Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung không có, ly hôn anh không đề nghị Tòa án giải quyết. Do điều kiện anh không về được Việt Nam, nên anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho chị gái là Nguyễn Thị Kim L nhận thay các văn bản tố tụng của Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa chị S với anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị S được ly hôn anh T. Về án phí: Chị S phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về tố tụng: Chị Hoàng Thị S và anh Nguyễn Thanh T đều có hộ khẩu thường trú tại số F B, phường P, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Hiện anh T đang sinh sống tại Cộng hòa S. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Quá trình giải quyết vụ án, chị S không cung cấp được địa chỉ của anh T ở Cộng hòa S. Theo quy định tại Điều 10 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình anh T cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp được. Qua xác minh tại gia đình anh T được biết, anh T thỉnh thoảng có liên lạc về gia đình. Bà L đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh T biết. Thông qua gia đình anh T cũng đã có quan điểm về việc ly hôn và con chung.

Chị S, anh T đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Do vậy căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị S và anh Nguyễn Thanh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương ngày 21/12/2001, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian dài thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng sống xa nhau, cả hai thiếu sự quan tâm, chia sẻ dẫn đến bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Nay chị S xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn anh T. Quá trình giải quyết vụ án, anh T cũng có quan điểm xác định vợ chồng có mâu thuẫn, chị S có đơn ly hôn anh cũng đồng ý. Do vậy có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa anh chị S và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị S.

- Về con chung: Chị Hoàng Thị S và anh Nguyễn Thanh T có hai con chung là cháu Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1994 (chết năm 2015) và cháu Nguyễn Hoàng H2, sinh năm 1999. Hiện nay cháu H2 đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3].Về án phí: Chị Hoàng Thị S phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị S được ly hôn anh Nguyễn Thanh T.
  2. Về án phí: Chị Hoàng Thị S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000671 ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị S đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Anh Nguyễn Thanh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND phường Trần Phú;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 285/2024/HNGĐ-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn

  • Số bản án: 285/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger