|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 285/2024/DS-PT Ngày 06-6-2024 V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền.
Các Thẩm phán: Ông Lê Sỹ Trứ.
Bà Ngô Thị Bích Diệp.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Lợi – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 166/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 102/2024/DS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 188/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 266/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1993; địa chỉ: số A chung cư O, đường B, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp:
- Ông Nguyễn Văn N, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; là người đại diện hợp pháp theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 14/12/2023); có yêu cầu giải quyết vắng mặt;
- Ông Ngô Minh N1, địa chỉ: C G, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện hợp pháp theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 14/12/2023); có mặt.
- Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ; địa chỉ trụ sở: số A ấp H, xã G, huyện T, Đồng Nai; địa chỉ văn phòng: tầng G, tòa nhà A G, số D Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Dương Kim C, sinh năm 1995; đại chỉ: tầng 2, tòa nhà A G, số D Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 24/5/2024); có mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn Công ty Cổ phần Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện ngày 20/12/2023, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Ngô Minh N1 trình bày:
Ngày 10/12/2020, bà Nguyễn Thị T và Công ty Cổ phần Đ (gọi tắt công ty Đ) ký kết thỏa thuận đặt cọc số C1-18.02/TTĐC-LDGSKY/2020 để đảm bảo cho việc mua căn hộ ký hiệu C1-18.02 khu C, địa chỉ dự án: khu C tại lô C, khu đô thị M, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương, đây là tài sản hình thành trong tương lai. Quá trình thực hiện hợp đồng, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp tiền theo đúng thời hạn thỏa thuận, tổng cộng nguyên đơn đã đóng cho bị đơn số tiền 517.393.800 đồng. Tuy nhiên, đến hết năm 2021, Công ty Đ vẫn không ký hợp đồng mua bán với bà T theo như thỏa thuận tại mục 4.1 Điều 4 của thỏa thuận đặt cọc với lý do đại dịch Covid chậm tiến độ thi công. Do đó, ngày 14/12/2022, bà T đã đến văn phòng công ty tại tầng G, tòa nhà A G, số D Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để đề nghị thanh lý thỏa thuận đặt cọc. Cùng ngày 14/12/2022, bà T và Công ty Đ đã ký Biên bản thanh lý Thỏa thuận đặt cọc số C1-18.02/TTĐC-LDGSKY/2020 trong đó Công ty Đ đã xác nhận khoản tiền lãi tính từ ngày 01/01/2022 đến ngày 30/9/2023 (272 ngày) là 28.146.223 đồng và thanh toán tiền cho bà T trong 90 ngày làm việc.
Hiện nay, đã quá thời hạn trả tiền theo thỏa thuận tại Biên bản thanh lý, nhưng Công ty Đ vẫn không trả tiền cho bà T. Việc vi phạm nghĩa vụ trên của Công ty Đ đã xâm phạm trực tiếp quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị T. Vì vậy, bà T khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương buộc Công ty Cổ phần Đ trả cho bà T số tiền đặt cọc chưa trả là 517.393.800 đồng, số tiền lãi theo hồ sơ thanh lý là 28.146.223 đồng và tiền lãi trên số tiền chậm trả (545.540.023 đồng) kể từ ngày 30/4/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 29/3/2024 với mức lãi suất 0,83%/tháng (0.027%/ngày), thành tiền là 49.196.799 đồng (545.540.023đ x 0,027% x 334 ngày); tổng số tiền bà T yêu cầu Công ty Đ phải thanh toán là 594.736.822 đồng (năm trăm chín mươi bốn triệu bảy trăm ba mươi sáu nghìn tám trăm hai mươi hai đồng).
2. Tại bản tự khai và lời khai trong quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của bị đơn là ông Triệu Phúc T1 trình bày:
Bị đơn thống nhất lời trình bày của nguyên đơn về thời gian, nội dung ký kết thỏa thuận đặt cọc và Biên bản thanh lý thỏa thuận đặt cọc giữa bà T với Công ty Đ. Số tiền bà T đã đặt cọc cho Công ty Đ là 517.393.800 đồng. Do dịch
bệnh covid, bị đơn không thực hiện đúng tiến độ của dự án nên không ký kết hợp đồng mua bán căn hộ với nguyên đơn. Vì vậy, bị đơn và nguyên đơn đã thống nhất chấm dứt thỏa thuận đặt cọc số C1-18.02/TTĐC-LDGSKY/2020, bị đơn đồng ý thanh toán cho nguyên đơn số tiền 545.540.023 đồng, trong đó, tiền cọc 517.393.800 đồng và số tiền lãi 28.146.223 đồng, thời hạn thanh toán trong vòng 90 ngày làm việc kể từ sau ngày 14/12/2022. Do nguyên đơn không thực hiện việc trả hồ sơ gốc của việc đặt cọc và các chứng từ bản gốc cho phía bị đơn nên bị đơn chưa trả tiền cho nguyên đơn. Vì vậy, bị đơn chỉ đồng ý trả số tiền 545.540.023 đồng cho nguyên đơn mà không đồng ý trả lãi tính từ ngày 01/10/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm..
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 102/2024/DS-ST ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T với bị đơn Công ty Cổ phần Đ.
- Buộc Công ty Cổ phần Đ phải trả cho Bà Nguyễn Thị T số tiền 594.736.822 đồng (năm trăm chín mươi bốn triệu bảy trăm ba mươi sáu nghìn tám trăm hai mươi hai đồng).
Trong đó tiền đặt cọc chưa trả là 517.393.800 đồng (năm trăm mười bảy triệu ba trăm chín mươi ba nghìn tám trăm đồng), tiền lãi theo biên bản thanh lý hợp đồng là 28.146.223 (hai mươi tám triệu một trăm bốn mươi sáu nghìn hai trăm hai mươi ba) đồng, tiền lãi chậm trả là 49.196.799 (bốn mươi chín triệu một trăm chín mươi sáu nghìn bảy trăm chín mươi chín) đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Công ty Cổ phần Đ phải chịu 27.789.473 (hai mươi bảy triệu bảy trăm tám mươi chín nghìn bốn trăm bảy mươi ba) đồng.
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị T số tiền 13.171.876 (mười ba triệu một trăm bảy mươi mốt nghìn tám trăm bảy mươi sáu) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001558 ngày 17/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 10/4/2024 bị đơn Công ty Cổ phần Đ có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại toàn bộ vụ án nêu trên theo đúng quy định pháp .
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đại diện bị đơn Công ty Cổ phần Đ đề nghị Hội đồng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm về tiền lãi, bị đơn không đồng ý trả toàn bộ số tiền lãi mà
nguyên đơn yêu cầu. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Nhận thấy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn do ông Nguyễn Văn N đại diện có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự có tên trên.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Nguyên đơn và bị đơn thống nhất ngày 10/12/2020 hai bên có ký kết hợp đồng thỏa thuận đặt cọc số C1-18.02/TTĐC-LDGSKY/2020 để đảm bảo cho việc mua căn hộ C1-18.02 tại khu C, địa chỉ dự án khu C tại lô C, khu đô thị M, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Nguyên đơn đã đặt cọc cho bị đơn số tiền 517.393.800 đồng nhưng bị đơn không thực hiện cam kết về việc ký kết hợp đồng mua bán căn hộ. Ngày 14/12/2022, nguyên đơn và bị đơn đã thỏa thanh lý hợp đồng đặt cọc số C1-18.02/TTĐC-LDGSKY/2020 với nội dung thanh lý, chấm dứt hợp đồng đặt cọc số C1-18.02/TTĐC-LDGSKY/2020, bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền 545.540.023 đồng, thời gian trả trong vòng 90 (mươi) ngày làm việc và bà T phải hoàn tất nghĩa vụ tại khoản 3.2 Điều 3 của Biên bản thanh lý. Sự thừa nhận của các đương sự là tình tiết chứng cứ không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2.2] Xét thấy, Hợp đồng đặt cọc số C1-18.02/TTĐC-LDGSKY/2020 ngày 10/12/2020, Biên bản thanh lý hợp đồng đặt cọc số C1-18.02/TTĐC-LDGSKY/2020 ngày 14/12/2022 giữa Công ty Đ với bà Nguyễn Thị T được giao kết giữa người có thẩm quyền, thể hiện ý chí thỏa thuận tự nguyện của hai bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải tôn trọng thực hiện. Hợp đồng đặt cọc giữa hai bên nhằm đảm bảo cho việc mua căn hộ ký hiệu số C1-18.02 khu C tại lô C, khu đô thị M, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Tuy nhiên, bị đơn không thực hiện được đúng cam kết nên ngày 14/12/2022, nguyên đơn và bị đơn đã thống nhất thanh lý hợp đồng đặt cọc. Tại biên bản thanh lý hợp đồng đặt cọc, các bên tự nguyện, đồng ý chấm dứt hợp đồng đặt cọc số C1-18.02/TTĐC-LDGSKY/2020 ngày 10/12/2020; đồng thời, công ty Đ có trách nhiệm trả cho bà T số tiền 545.540.023 đồng, trong đó: tiền đặt cọc 517.393.800 đồng; tiền lãi đến ngày ký
Biên bản thanh lý hợp đồng là 28.146.223 đồng; thời gian thanh toán trong vòng 90 ngày làm việc kể từ sau ngày 14/12/2022 và bà T phải hoàn tất nghĩa vụ tại khoản 3.2 Điều 3 của Biên bản thanh lý này. Như vậy, hợp đồng đặt cọc số C1-18.02/TTĐC-LDGSKY/2020 ngày 10/12/2020 đã chấm dứt theo thỏa thuận của các bên được quy định tại khoản 2 Điều 422 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.3] Căn cứ nội dung thỏa thuận tại Biên bản thanh lý hợp đồng đặt cọc số C1-10.02/TTĐC-LDGSKY/2020 ngày 14/12/2022 thì hai bên đã thỏa thuận ngày 30/4/2023 là hạn chót bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền 545.540.023 đồng và bà T phải hoàn tất nghĩa vụ tại khoản 3.2 Điều 3 của Biên bản thanh lý này. Bị đơn thừa nhận đến nay chưa thanh toán số tiền trên cho nguyên đơn. Bị đơn cho rằng theo quy định tại mục 3.2 Điều 3 của Biên bản thanh lý các bên đã thỏa thuận: “Bên B có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ cho bên A bản chính thỏa thuận đặt cọc số C1-18.02/TTĐC-LDGSKY/2020 ngày 10/12/2020 và các phụ lục văn bản chứng từ liên quan đến thỏa thuận đặt cọc (nếu có) cho bên A trước khi bên A hoàn tất việc hoàn trả tiền nêu tại mục 2 bên bản thanh lý này”, do nguyên đơn chưa trả các tài liệu bản chính cho Công ty nên Công ty chưa trả tiền cho bên B, Công ty không có lỗi về việc chưa trả tiền theo thỏa thuận cho nguyên đơn, vì vậy, Công ty không đồng ý trả tiền lãi chậm trả cho nguyên đơn. Xét, việc trả tiền là nghĩa vụ của bị đơn và bị đơn hoàn toàn là người chủ động. Phía nguyên đơn không thể biết khi nào bị đơn hoàn tất việc trả tiền để thực hiện nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ giấy tờ cho bị đơn như trong thỏa thuận và chỉ thực hiện được nghĩa vụ này khi được phía bị đơn thông báo về việc trả tiền nên tại biên bản thanh lý chỉ ghi nhận về thời hạn thanh toán tiền mà không ghi rõ về thời gian phía nguyên đơn phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả giấy tờ. Tại phiên tòa, các bên đều xác định thời gian thanh toán số tiền 545.540.023 đồng theo biên bản thanh lý là hạn chót hết ngày 30/4/2023, sau khi ký biên bản thanh lý nguyên đơn vẫn thường xuyên đến Công ty Đ yêu cầu việc trả tiền nhưng Công ty Đ không thanh toán. Từ đó đến nay, phía bị đơn cũng không có thông báo gửi cho nguyên đơn nêu rõ ngày giờ về việc sẽ hoàn trả đầy đủ số tiền theo biên bản thanh lý nên phía nguyên đơn cũng không thể thực hiện nghĩa vụ hoàn trả giấy tờ. Đồng thời, toàn bộ các văn bản mà các bên ký kết thì đều được lập thành 03 bản như nhau, bên bị đơn đang giữ 02 bản nên nghĩa vụ hoàn trả các văn bản của nguyên đơn không ảnh hưởng đến thời gian bị đơn phải hoàn trả tiền cọc cho nguyên đơn theo đúng cam kết. Bị đơn cho rằng do nguyên đơn không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ cho bị đơn bản chính thỏa thuận đặt cọc và các phụ lục, văn bản chứng từ liên quan trước khi nguyên đơn hoàn tất việc trả tiền nên đến nay bị đơn vẫn chưa trả tiền theo biên bản thanh lý và lỗi chậm thanh toán không phải do bị đơn nên không phát sinh nghĩa vụ trả tiền lãi chậm trả trên số tiền phải trả là hoàn toàn không phù hợp.
[2.4] Tại Điều 357 Bộ luật Dân sự quy định về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: “1. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. 2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468
của Bộ luật này, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này”. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền nên bị đơn phải chịu trách nhiệm trả lãi trên số tiền chậm trả, tại Biên bản thanh lý hợp đồng hai bên không thỏa thuận mức lãi suất chậm trả nên trong trường hợp này áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 để làm căn cứ giải quyết. Tại đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu tính lãi với mức lãi suất 0,02%/ngày (tương đương với 7,2%/năm), tại phiên tòa đại diện nguyên đơn thay đổi yêu cầu về mức tính lãi suất là 0.027%/ngày (0,83%/tháng, tương đương 9,96%/năm), mức lãi suất này thấp hơn mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự vì vậy nếu áp dụng mức lãi suất nguyên đơn yêu cầu tại phiên tòa (0,027%/ngày) cũng không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu và vẫn thấp hơn mức lãi suất theo quy định của pháp luật, đây là sự tự nguyện của nguyên đơn nên Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận là phù hợp. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền cọc chưa trả, số tiền lãi theo biên bản thanh lý là 545.540.023 đồng và số tiền lãi chậm thanh toán tính từ ngày 30/4/2023 đến ngày 29/3/2024 trên số tiền chậm thanh toán là 49.196.799 đồng (545.540.023 đồng x 0,027% x 334 ngày) là phù hợp với quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 và có lợi cho bị đơn nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp.
Từ những phân tích trên, xét thấy không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần Đ.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần Đ.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 102/2024/DS-ST ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn Công ty Cổ phần Đ phải chịu số tiền 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0002774 ngày 10/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Thanh Tuyền |
Bản án số 285/2024/DS-PT ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 285/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
