TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 285/2025/DS-PT
Ngày: 11-6-2025
V/v: Tranh chấp về thừa kế tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Đức.
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thu Trang.
Ông Phạm Văn Ngọt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Phấn – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 497/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 103/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4861/2024/QĐXXPT-DS ngày 02 tháng 12 năm 2024; Quyết định tạm ngừng phiên toà phúc thẩm số 811/2025/QĐPT-DS ngày 27 tháng 02 năm 2025 và Thông báo về việc tiếp tục phiên toà số 1799/2025/GTT-TA ngày 20 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1966;
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1962;
Cùng nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn P, huyện M, tỉnh Bến Tre.
- Bà Nguyễn Thị Bé S, sinh năm 1955;
Nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn P, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn M, T, S: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1964; Nơi cư trú: Ấp H, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn:
Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1964;
Nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn P, huyện M, tỉnh Bến Tre.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị S1, sinh năm 1977;
Nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn P, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn Nguyễn Văn C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị S1: Bà Lê Thị Thùy V, sinh năm 1974; Nơi cư trú: F, Khu phố A, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn C, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm;
Ông Nguyễn Văn N trình bày: Nguồn gốc thửa đất số 472 và 432, cùng tờ bản đồ số 9, thửa đất số 233, 235 và 242, cùng tờ bản đồ số 12 là của ông bà nội nguyên đơn, cho cha mẹ của nguyên đơn. Các thửa đất này không có đưa vào tập đoàn sản xuất. Cha mẹ nguyên đơn là ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1924 (chết năm 1969), mẹ là bà Trần Thị S2, sinh năm 1926 (chết năm 2008), ông C1 và bà S2 chết không để lại di chúc. Cha mẹ ông C1 và bà S2 chết, ông C1 và bà S2 có 07 người con gồm:
- Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1943 (chết năm 1967), không có vợ con.
- Nguyễn Văn N1, sinh năm 1951 (chết năm 1970), không có vợ con.
- Nguyễn Thị Bé S, sinh năm 1955.
- Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1957 (từ chối nhận di sản thừa kế để cho các đồng thừa kế khác).
- Nguyễn Văn T, sinh năm 1962.
- Nguyễn Văn C, sinh năm 1964.
- Nguyễn Thị M, sinh năm 1966.
Các thửa đất tranh chấp khi cha mẹ nguyên đơn còn sống thì do cha mẹ
nguyên đơn quản lý sử dụng, sau khi ông C1 chết thì cụ S quản lý sử dụng, sau khi cụ S chết đến nay thì bà Bé S và bà M quản lý toàn bộ thửa 472 và thu hoa lợi trên đất; Thửa 432 ông C đang quản lý toàn bộ; Thửa 242 bà M và ông T cùng quản lý, sử dụng và thờ cúng ông bà. Biên bản họp gia đình ngày 22/11/2011 bà M, ông Ú và ông T không có ký tên. Cây trồng trên đất là do tất cả anh em và bà S cùng trồng không rõ thời gian. Căn nhà trên thửa đất số 242 là do Nhà nước trao tặng bằng tiền, tiền liệt sỹ hàng năm, tiền bán đất cho ông N và bà M bù thêm 33.000.000 đồng. Căn nhà cất trên thửa đất 472B là do bà Bé S cất nhà tạm, căn nhà trên thửa đất 432-3 là do ông C cất.
Bà M yêu cầu nhận thửa đất 242 diện tích 558,5m² trong đó có 75m² đất ở nông thôn; thửa đất số 472B diện tích là 2.443.8m² cùng cây trồng và vật kiến trúc trên đất.
Bà Bé S yêu cầu nhận thửa đất 242 diện tích 558,5m² trong đó có 75m² đất ở nông thôn; thửa đất số 472A diện tích là 2.443.6m² cùng cây trồng và vật kiến trúc trên đất.
Ông T yêu cầu nhận thửa đất 242 diện tích 558,5m² trong đó có 75m² đất ở nông thôn; thửa đất số 432-1 diện tích là 1.594,1m² cùng cây trồng và vật kiến trúc trên đất.
Ông C nhận thửa đất 242 diện tích 558,5m² trong đó có 75m² đất ở nông thôn; thửa đất số 432-2 diện tích là 1.629,8m²; thửa 432-3 diện tích 3.024,6m² cùng cây trồng và vật kiến trúc trên đất.
Tuy nhiên, bà M, ông T và bà S đề nghị cùng đồng sở hữu thửa đất 242 cùng cây trồng và vật kiến trúc trên đất, các nguyên đơn sẽ hoàn trả giá trị tương ứng cho ông C.
Trong trường hợp phân chia đều cho 04 phần nếu ai nhận kỷ phần cao hơn sẽ phải hoàn trả giá trị chênh lệch cho các đồng thừa kế còn lại. Thửa 233, 235 các nguyên đơn không yêu cầu chia thừa kế.
Ông Nguyễn Văn C trình bày: Ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
Ông thống nhất với nguyên đơn về nguồn gốc thửa đất tranh chấp, hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn C1, bà Trần Thị S2. Thửa đất này hiện nay đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Trần Thị S2 không có ai tranh chấp. Khi cha ông chết thì mẹ ông và ông quản lý, sử dụng và mẹ ông đã đăng ký kê khai và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc cấp giấy này không có ai khiếu nại hay tranh chấp. Năm 2008 mẹ ông C2 thì ông quản lý, sử dụng tất cả các thửa đất trên. Đến năm 2021 bà Bé S và bà M vào quản lý toàn bộ thửa 472; Thửa 432 ông đang quản lý toàn bộ
và cất nhà trên đất; Thửa 242 bà M và ông T cùng quản lý, sử dụng cùng căn nhà trên đất. Cây trồng trên tất cả các thửa đất tranh chấp là do ông trồng, ông lên bờ, bồi bùn vào năm 1990 cho đến nay, lúc đó ông còn sống chung với mẹ ông. Ông lên bờ trồng dừa thửa đất 432 vào năm 1990, 2011 đến năm 2016 ông bơm cát; Thửa 472 ông lên bờ trồng dừa bơm cát năm 1998, 1999 và năm 2000; Thửa 242 không có lên bờ chỉ có trồng cây, bơm cát. Tiền xây nhà, bơm cát là do thu hoạch hoa lợi từ các thửa đất trên. Căn nhà cất trên thửa đất số 242 là tiền nhà Nhà nước trao tặng là 18.000.000 đồng còn lại ông bù vào nhưng bao nhiêu ông không nhớ rõ.
Ông C yêu cầu Tòa án công nhận các thửa đất số 1235, 1229, 558 và 559, cùng tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại thị trấn P, huyện M, tỉnh Bến Tre qua đo đạc thực tế là thửa đất số 472 và 432, cùng tờ bản đồ số 9 và thửa 242, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại thị trấn P, huyện M, tỉnh Bến Tre cho ông. Ông đồng ý để cho các anh, chị, em ông cùng quản lý, sử dụng và thu hoa lợi trên đất như hiện nay nhưng ông không đồng ý chia thừa kế. Ông không yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất số 233 và 235, tờ bản đồ số 12.
Bà Nguyễn Thị S1 vắng mặt tại phiên toà nhưng có lời khai trong quá trình tố tụng như sau: Bà là vợ hợp pháp của ông C, bà không có liên quan gì đến thửa đất tranh chấp, nên bà yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 103/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre đã tuyên:
Áp dụng khoản 5, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 68, Điều 147 và khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 609, 611, 612, 613, 614, 620, 623, 649, 650, 651 Bộ luật Dân sự 2015.
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVWQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu công nhận toàn bộ di sản thừa kế là của bị đơn.
Cụ thể tuyên:
- Bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Văn T được nhận thừa kế theo pháp luật của cụ Trần Thị S2 để lại thuộc thửa đất số 242, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.234m², toạ lạc tại khu phố T, thị trấn P, huyện M, tỉnh Bến Tre cùng cây trồng và vật kiến trúc trên đất (theo hoạ đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 20/6/2023), buộc bà S2 giao lại cho bà M và ông T phần đất này để quản lý, sử dụng.
- Ông Nguyễn Văn T được nhận thừa kế theo pháp luật của cụ Trần Thị S2 để lại thuộc thửa 472A diện tích 2.443,6 m², tờ bản đồ số 9, toạ lạc tại khu phố P, thị trấn P, huyện M, tỉnh Bến Tre cùng cây trồng trên đất (theo hoạ đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 20/6/2023), buộc bà M giao lại cho ông T phần đất này để quản lý, sử dụng.
- Bà Nguyễn Thị M được nhận thừa kế theo pháp luật của cụ Trần Thị S2 để lại thuộc thửa 472B diện tích 2.443,8 m², tờ bản đồ số 9, toạ lạc tại khu phố P, thị trấn P, huyện M, tỉnh Bến Tre cùng cây trồng trên đất (theo hoạ đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 20/6/2023), thửa đất này bà M đang quản lý, sử dụng. Đối với căn nhà cất trên thửa đất này không phải là di sản thừa kế nên tạm giao cho bà M quản lý, sử dụng. Trường hợp, ông C và bà M có tranh chấp sẽ khởi kiện vụ án khác.
- Bà Nguyễn Thị Bé S được nhận thừa kế theo pháp luật của cụ Trần Thị S2 để lại thuộc thửa đất số 432-1 diện tích 1.594,1m² và thửa 432-2 diện tích 1.629,8m²tờ bản đồ số 9, toạ lạc tại khu phố P, thị trấn P, huyện M, tỉnh Bến Tre cùng cây trồng trên đất (theo hoạ đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 20/6/2023), buộc ông C giao lại cho bà S2 phần đất này để quản lý, sử dụng.
- Ông Nguyễn Văn C được nhận thừa kế theo pháp luật của cụ Trần Thị S2 để lại thuộc thửa đất số 432-3 diện tích 3.024,6 m², tờ bản đồ số 9, toạ lạc tại khu phố P, thị trấn P, huyện M, tỉnh Bến Tre cùng cây trồng và vật kiến trúc trên đất (theo hoạ đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 20/6/2023),ông C đang quản lý, sử dụng thửa đất này.
Quá trình thi hành án, đường ranh chung của các thửa đất số 432 và 472 theo hồ sơ trích đo hiện trạng sử dụng đất ngày 20/6/2023 nếu trúng vào cây trồng, vật kiến trúc thì được đốn bỏ, tháo dỡ, di dời hoặc đập bỏ không ai phải bồi thường cho ai.
Buộc bà Nguyễn Thị M phải có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Văn C số tiền là 122.402.000 đồng.
Buộc ông Nguyễn Văn T phải hoàn trả cho ông Nguyễn Văn C số tiền là 59.750.000 đồng.
Buộc ông Nguyễn Văn T phải hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Bé S số tiền là 62.573.000 đồng.
Buộc bà Nguyễn Thị Bé S hoàn trả cho ông Nguyễn Văn C số tiền là 2.908.000 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, tiền lãi chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 14/10/2024, bị đơn ông Nguyễn Văn C có đơn kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn là bà Lê Thị Thùy V trình bày: Bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, công nhận ông C là chủ sử dụng đất hợp pháp của các thửa đất 558, 559, cùng tờ bản đồ số 02 nay là thửa 242, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại thị trấn P, huyện M, tỉnh Bến Tre và các thửa 1235, 1229, cùng tờ bản đồ số 02 nay là thửa 472 và 432, cùng tờ bản đồ số 9 tọa lạc tại thị trấn P, huyện M, tỉnh Bến Tre. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ông C là người đã trực tiếp canh tác, cải tạo các thửa đất theo giấy xác nhận của Trưởng ấp và những người dân sinh sống gần đó, căn cứ vào biên bản họp gia đình ngày 22/11/2011 để bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật về tố tụng, những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định của pháp luật tố tụng.
- Về nội dung: Căn cứ vào khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử huỷ toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; đề nghị của Kiểm sát viên; xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn C; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn C kháng cáo và thực hiện thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn là ông Nguyễn Văn N có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2025, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt ông N.
[2] Về nội dung: Các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các nội dung như sau:
Bà M yêu cầu nhận thửa đất 242, diện tích 558,5m² trong đó có 75m² đất ở nông thôn; thửa đất số 472B, diện tích 2.443.8m² cùng cây trồng và vật kiến trúc trên đất.
Bà Bé S yêu cầu nhận thửa đất 242, diện tích 558,5m² trong đó có 75m² đất ở nông thôn; thửa đất số 472A, diện tích 2.443.6m² cùng cây trồng và vật kiến trúc trên đất.
Ông T yêu cầu nhận thửa đất 242, diện tích 558,5m² trong đó có 75m² đất ở nông thôn; thửa đất số 432-1, diện tích 1.594,1m² cùng cây trồng và vật kiến trúc trên đất.
Ông C nhận thửa đất 242, diện tích 558,5m² trong đó có 75m² đất ở nông thôn; thửa 432-2, diện tích 1.629,8m²; thửa 432-3 diện tích 3.024,6m² cùng cây trồng và vật kiến trúc trên đất.
Bà M, ông T và bà Bé S đề nghị cùng đồng sở hữu thửa đất 242 cùng cây trồng và vật kiến trúc trên đất. Trường hợp chia đều 04 phần, nếu ai nhận kỷ phần cao hơn sẽ phải hoàn trả giá trị chênh lệch cho các đồng thừa kế còn lại. Thửa 233 và 235, các nguyên đơn không yêu cầu chia thừa kế.
Ông C phản tố yêu cầu Tòa án công nhận các thửa đất số 1235, 1229, 558 và 559, cùng tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại thị trấn P, huyện M, tỉnh Bến Tre qua đo đạc thực tế là thửa đất số 472 và 432, cùng tờ bản đồ số 9 và thửa 242, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại thị trấn P, huyện M, tỉnh Bến Tre cho ông. Ông đồng ý để cho các anh, chị, em ông cùng quản lý, sử dụng, thu hoa lợi trên đất như hiện nay nhưng không đồng ý chia thừa kế. Thửa đất 233 và 235, ông không yêu cầu chia thừa kế.
Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn C, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/3/2023, bà Nguyễn Thị Bé S, ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn Ú và bà Nguyễn Thị M khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế do cụ S chết để lại, Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết vụ án xác định nguyên đơn trong vụ án là bà Nguyễn Thị Bé S, ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn Ú và bà Nguyễn Thị M và bị đơn là ông Nguyễn Văn C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị S1. Quá trình tố tụng tại Toà án, đến ngày 29/8/2024, người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Văn Ú là ông Nguyễn Văn N có đơn rút yêu cầu khởi kiện của ông Ú và trình bày ý kiến về việc ông Ú từ chối nhận di sản thừa kế để cho các đồng thừa kế khác. Toà án cấp sơ thẩm đã ra Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự số 01/2024/QÐST-DS ngày 29/8/2024 đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Ú và đã tống đạt quyết định cho người đại diện theo uỷ quyền của ông Ú là ông Nguyễn Văn N ngày 29/8/2024. Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1.1] Về tố tụng: Tại mục 7 phần IV Giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Toà án nhân dân Tối cao như sau: “[...] Trường hợp nguyên đơn rút một phần yêu cầu thì Tòa án không ra quyết định đình chỉ riêng mà phải nhận xét trong phần Nhận định của Tòa án trong bản án và quyết định đình chỉ một phần yêu cầu trong phần Quyết định của bản án”. Theo tinh thần của hướng dẫn nêu trên, trường hợp ông Ú (là đồng nguyên đơn) rút yêu cầu khởi kiện thì Toà án không ra quyết định đình chỉ riêng mà phải nhận xét trong phần Nhận định của Tòa án trong bản án và quyết định đình chỉ một phần yêu cầu trong phần Quyết định của bản án. Do đó, Toà sơ thẩm ra Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự đối với yêu cầu khởi kiện của ông Ú là chưa phù hợp.
[2.1.2] Sau khi ra Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự đối với yêu cầu khởi kiện của ông Ú, đến ngày 04/9/2024, Toà sơ thẩm tiến hành xác minh đối với ông Nguyễn Thanh H là Trưởng khu phố T, nội dung xác minh thể hiện ông Ú vừa mới chết cách đây vài ngày và hiện nay có một người con của ông Ú đang ở trên phần đất thuộc thửa 242. Như vậy, đến ngày 04/9/2024, Toà sơ thẩm đã biết việc ông Ú chết nhưng không tiến hành thu thập giấy chứng tử của ông Ú để xác định thời điểm ông Ú chết. Toà án cấp phúc thẩm đã tạm ngừng phiên toà để tiến hành thu thập chứng cứ này. Theo nội dung Công văn số 266/UBND-TPHT ngày 15/5/2025 của Ủy ban nhân dân thị trấn P xác định ông Ú chết ngày 31/8/2024 và ông Ú có 03 người con ruột là Nguyễn Tấn L, Nguyễn Minh T1, Nguyễn Nhật Q. Như vậy, ông Ú chết sau khi Toà án sơ thẩm ra Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự đối với yêu cầu khởi kiện của ông Ú 02 ngày. Toà sơ thẩm tống đạt Quyết định cho người đại diện theo uỷ quyền của ông Ú ngày 29/8/2024, tuy nhiên đến ngày 31/8/2024 khi ông Ú chết thì hợp đồng uỷ quyền chấm dứt theo quy định của pháp luật nên ông N không còn là người đại diện theo uỷ quyền của ông Ú kể từ ngày 31/8/2024. Theo quy định pháp luật, đương sự có quyền kháng cáo quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên tính đến ngày 31/8/2024 thì thời hạn kháng cáo vẫn còn. Toà án cấp sơ thẩm không tiến hành tống đạt Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự đối với yêu cầu khởi kiện của ông Ú cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ú (cụ thể là 03 người con ruột của ông Ú) để những người này thực hiện quyền kháng cáo theo quy định là chưa đảm bảo quyền lợi của đương sự, Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự số 01/2024/QĐST-DS ngày 29/8/2024 đối với yêu cầu khởi kiện của ông Ú đến nay chưa có hiệu lực. Sau khi ông Ú chết, Toà án cấp sơ thẩm chưa đưa những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ú vào tham gia tố tụng trong vụ án là thiếu sót.
[2.2] Tại cấp sơ thẩm, ông C không tranh chấp chia thừa kế đối với thửa đất số 233 và 235, tờ bản đồ số 12, tại thị trấn P, huyện M, tỉnh Bến Tre là di sản của cụ Trần Thị S2 để lại. Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của ông C trình bày sở dĩ ông C không yêu cầu tranh chấp đối với thửa 233, 235 tại cấp sơ thẩm là do ông C căn cứ vào biên bản họp gia đình ngày 22/11/2011 đã được T2 ấp và Ủy ban nhân dân xã P (nay là thị trấn P) xác nhận để chứng minh các nguyên đơn đã thống nhất để lại các thửa 1235, 558, 559 và 1229 (nay là thửa 472, 242, 432) cho ông C được quyền định đoạt mà không tranh chấp nên ông C chỉ yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất 03 thửa 472, 242, 432 cho ông C, còn thửa 233, 235 đã thống nhất giao cho ông T quyền sử dụng. Tuy nhiên, nay ông C xác định trong trường hợp Toà cấp sơ thẩm không công nhận biên bản họp gia đình ngày 22/11/2011 để chấp nhận yêu cầu phản tố của ông C thì ông C yêu cầu tranh chấp chia thừa kế đối với thửa 233 và 235 trong cùng một vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo quyền và lợi ích của ông C trong việc chia thừa kế di sản của cụ S2 cần xem xét toàn diện công sức cải tạo, canh tác, tu bổ, giữ gìn di sản của ông C nên cần giải quyết yêu cầu chia thừa kế đối với thửa 233, 235 trong cùng một vụ án là phù hợp. Hiện tại, các con của ông Ú đang quản lý thửa 233, 235 cần đưa họ vào tham gia tố tụng trong vụ án. Bên cạnh đó, tại giai đoạn cấp phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của ông C cung cấp chứng cứ mới là các giấy xác nhận của những người làm chứng để chứng minh công sức cải tạo, canh tác, tu bổ, giữ gìn di sản của ông C đối với các thửa đất đang tranh chấp, do đó cần làm rõ nội dung này để khi giải quyết chia thừa kế thì tính phần công sức cải tạo, giữ gìn di sản cho ông C để đảm bảo quyền lợi của đương sự.
[2.3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã có những vi phạm nêu trên, việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên toà phúc thẩm không thể thực hiện được, nếu giải quyết vụ án sẽ làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của các đương sự, cần thiết hủy bản án sơ thẩm để giao hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
[2.4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[2.5] Do huỷ bản án sơ thẩm nên Hội đồng xét xử không xét yêu cầu kháng cáo của đương sự.
[2.6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do huỷ bản án sơ thẩm nên ông C không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 103/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
Giao hồ sơ vụ án về cho Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn C không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Ông Nguyễn Văn C là người cao tuổi, được miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Đức |
Bản án số 285/2025/DS-PT ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 285/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp thừa kế tài sản
