trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 285/2024/DS-PT

Ngày: 03-07-2024

V/v: "Tranh chấp di sản thừa kế,

chia tài sản chung và hủy giấy CNQSD đất"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quyến
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hải
Bà Lê Thị Minh Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: bà Nguyễn Thị Thủy– Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 03 tháng 07 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 31/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 03 năm 2024 về việc “Tranh chấp di sản thừa kế, chia tài sản chung và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 90/2023/DS-ST ngày 24/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 133/2023/QĐPT-DS ngày 06 tháng 03 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1957

Địa chỉ: Số I H, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. Có mặt

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1948.

Cùng địa chỉ: Số 1 H, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. Có mặt

- Người bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ cho bị đơn: Luật sư Nguyễn Viết C1, Đoàn luật sư thành phố C

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Đặng Thị T, sinh năm 1960.

    Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.

  2. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1950.

    Địa chỉ: Số B đường N, phường H, quận P, thành phố Cần Thơ.

    Người đại diện hợp pháp của bà M và bà T: ông Trần Thanh L, sinh năm 1987; Địa chỉ: KV Y, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ(Văn bản ủy quyền ngày 05/6/2023). Có mặt

  3. Ông Võ Thanh T1 (Chết)

Những người thừa kế thế vị:

    1. Bà Võ Thị Mỹ Á, sinh năm 1968; Địa chỉ: Tổ B, ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.
    2. Bà Võ Thị Ánh T2, sinh năm 1971; Địa chỉ: Khu V H, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
    3. Bà Võ Thị Mỹ L1, sinh năm 1969; Địa chỉ: B, Khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ
    4. Ông Võ Thanh H, sinh năm 1962; Địa chỉ: Tổ B, ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.
    5. Ông Võ Thanh S, sinh năm 1966; Địa chỉ: Khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ
    6. Ông Võ Thanh L2, sinh năm 1967; Địa chỉ: Số C, Khóm D, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau

      Cùng ủy quyền cho ông Võ Thanh H, sinh năm 1962 (Văn bản ủy quyền ngày 02/5/2024).

- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn N, bà Đặng Thị T và bà Nguyễn Thị M

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn ông Nguyễn Văn N trình bày như sau:

Vào trước năm 1975 cha mẹ ông là cụ Nguyễn Văn M1 và cụ Đặng Thị M2 có về sinh sống và cư ngụ làm ăn trên thửa đất địa chỉ số I đường H, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. Cụ M1, cụ M2 có tất cả là 05 người con gồm: Nguyễn Văn T3 (Tên gọi khác Võ Thanh T1, đã chết năm 1972, có 6 người con), Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị M, Nguyễn Văn N và Đặng Thị T. Cha mẹ chết không để lại di chúc, Do xác định tài sản có nguồn gốc của cha mẹ chết để lại nên việc bà Nguyễn Thị C – chị gái ông đứng tên là không hợp lệ. Nay ông yêu cầu:

- Chia di sản thừa kế của cụ Đặng Thị M2 chết để lại là ½ (một phần hai) quyền sử dụng các thửa đất số 306, 631, 370 của tờ bản đồ số 11 (kể cả ½ tài sản gắn liền với thửa đất nêu trên), tại hẻm I đường H, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

- Chia tài sản chung của cụ Nguyễn Văn M1 chết để lại là ½ (một phần hai) quyền sử dụng các thửa đất số 306, 631, 370 của tờ bản đồ số 11 (kể cả ½ tài sản gắn liền với thửa đất), tại Hẻm I đường H, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

Hủy 02 giấy chứng nhân quyền sử dụng đất của bà C.

Bị đơn bà Nguyễn Thị C có yêu cầu phản tố như sau:

Trước năm 1975, cha mẹ bà có mua 01 lô đất của ông Lê Phát A diện tích 147m², tọa lạc tại địa chỉ trên. Cha mẹ bà có dựng 01 căn nhà cột dầu vuông, mái ngói, vách ván trên diện tích có bề ngang 05m x bề dài 18m= 90 m². Còn lại một phần đất trống khoảng 57m². Chồng bà chết năm 1974, bà dắt 02 con về sống với cha mẹ. Năm 1975, cha mẹ cho bà 01 phần ở sát đường, cho Đặng Thị T 01 phần đất ở phía sau. Còn lại 01 phần đất ở phía sau có diện tích 27 m² cha mẹ bán luôn cho bà. Ba phần đất này tổng cộng khoảng 57m². Bà bồi bắp phần đất mé mương làm nhà, rồi đổi với phần đất của T ở trên. T sử dụng nhà một thời gian thì kêu bán. Bà C mua lại căn nhà mé mương với giá 04 chỉ vàng.

Thời gian sau, do quá khăn về kinh tế, mẹ bà đành bán xác nhà 9 đường H với giá 2.700.000 đồng. Còn lại nền nhà trống, bà là người mua cây và vật liệu cất lại nhà cho mẹ và em N ở. Mẹ bà làm hụi mắc nợ nhiều nên mẹ và các người con cuối cùng phải bán nhà và đất chiều ngang 05 m, chiều dài 18 m và mé mương cho bà C với giá là 750.000 đồng và 03 chỉ vàng, quy ra vàng là 08 chỉ. Mẹ bà chia cho em Những 04 chỉ, cho Nguyễn Thị M 02 chỉ, cho Võ Thị Mỹ L1 và Võ Thanh S (con của anh Võ Thanh T1) hai đứa 01 chỉ.

Như vậy, toàn bộ diện tích 147m² (đo đạc thực tế là 143m2) thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà. Ngoài ra, bà còn bồi đắp nhiều năm phần đất mé mương và được Nhà N1 công nhận là 54,25m². Do đó, bà có yêu cầu phản tố:

- Công nhận diện tích 56,7m² đất ở tại đô thị, thửa đất số 631, tờ bản đồ số 11, địa chỉ hẻm I, đường H, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ, hiện chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản hợp pháp thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị C.

- Bác toàn bộ yêu cầu chia tài sản chung, chia di sản thừa kế của nguyên đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M có yêu cầu độc lập trình bày:

Thống nhất trình bày và yêu cầu giống ông N.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Võ Thanh H trình bày:

Ông là con của ông Võ Thanh T1 (chết năm 1972), ông T1 có 06 người con gồm: Võ Thanh S, Võ Thanh L2, Võ Thị Mỹ Á, Võ Thị Mỹ L1, Võ Thị Ánh T2 và Võ Thanh H. Ông đại diện các anh em ông đề nghị tòa án giải quyết vụ án theo đúng qui định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T4 trình bày: Thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của ông N đề nghị Toà xem xét nguồn gốc và chia tài sản của cha mẹ để lại, bà T4 được hưởng 1/5 giá trị tài sản. Trên đất tranh chấp có ngôi nhà thờ thì đề nghị giao cho bà Nguyễn Thị M quản lý.

Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên đưa ra xét xử. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 90/2023/DS-ST ngày 24/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã quyết định:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị M về việc: Yêu cầu tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 650427 số vào sổ CH 00656 do UBND quận N cấp này 21/10/2011, thửa đất số 306, tờ bản đồ số 11, diện tích: 87,1m2, do bà Nguyễn Thị C đứng tên chủ sử dụng và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào số CH 00657 do UBND quận N cấp, thửa đất số 370, tờ bản đồ số 11, diện tích 54,0m2, do bà Nguyễn Thị C đứng tên chủ sử dụng; chia di sản thừa kế của bà Đặng Thị M2 chết để lại là ½ (một phần hai) quyền sử dụng các thửa đất số 306, 631, 370 của tờ bản đồ số 11 (kể cả ½ tài sản gắn liền với thửa đất nêu trên), tại Hẻm I đường H, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ; chia tài sản chung của ông Nguyễn Văn M1 chết để lại là ½ (một phần hai) quyền sử dụng các thửa đất số 306, 631, 370 của tờ bản đồ số 11 (kể cả ½ tài sản gắn liền với thửa đất), tại Hẻm I đường H, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị C, công nhận diện tích 56,7m² đất ở tại đô thị, thửa đất số 631, tờ bản đồ số 11, địa chỉ hẻm I, đường H, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị C. Bà Nguyễn Thị C được quyền liên hệ cơ quan chức năng có thẩm quyền để để đăng ký quyền sử dụng đất đối với thửa đất 631 theo quy định pháp luật.

Ngoài ra cấp sơ thẩm còn Quyết định về án phí, chi phí đo đạc, định giá và quyền kháng cáp của các đường sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/5/2023 ông Nguyễn Văn N nộp đơn kháng cáo, ngày 05/6/2023 bà Đặng Thị T và bà Nguyễn Thị M kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N, bà T và bà M3.

Tại phiên Tòa phúc thẩm:

- Ông Nguyễn Văn N, ông Trần Thanh L (đại diện bà Nguyễn Thị M và bà Đặng Thị T) yêu cầu chia thừa kế của cụ M1 và cụ M2 theo quy định của pháp luật đối với thửa đất 306, 370. Đối với thửa đất 631 thì tại Công văn 264 của UBND quận N xác định là tài sản chung nên yêu cầu chia theo phần, yêu cầu được nhận hiện vật và đồng ý trả lại giá trị cho bà C theo như kết quả định giá của Hội đồng định giá. Đối với yêu cầu hủy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở thì tự nguyện rút yêu cầu, chỉ yêu cầu chia thừa kế và tài sản chung.

Ông Võ Thanh H thống nhất ý kiến của ông Nguyễn Văn N.

- Người bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ cho bà Nguyễn Thị C có ý kiến trong phần tranh luận như sau: Ngày 05/12/2003 cụ Đặng Thị M2 làm giấy xác nhận có các nội dung như sau:

“Nguyên trước năm 1975, vợ chồng tôi có mua 1 lô đất của ông Lê Phát A diện tích 147m² tọa lạc tại số I đường H, P. T, Q.N, TP. Thơ. Chúng tôi có cất 1 căn nhà để ở trên phần đất mua, số đất còn lại chia cho 02 người con có tên dưới đây:

  1. Nguyễn Thị C ở sát đường
  2. Đặng Thị T ở phía sau

Còn căn nhà vợ chồng tôi cất kể trên, đứa con trai út ở chung với vợ chồng tôi. Còn phần đất phía sau 27m2 vợ chồng tôi bán luôn cho con gái thứ năm là Nguyễn Thị C. Như vậy, Nguyễn Thị C có 2 nền. Việc cho và bán không có làm giấy tờ theo đúng quy định của Nhà nước vì là chỗ mẹ con với nhau”.

Sau đó, bà C đổi căn nhà phía mé mương với Đặng Thị T để lấy phần đất của cha mẹ cho Đặng Thị T. Bà Đặng Thị T được mẹ cho một nền nhà ngang 4m x dài 8m, ở phía sau phần đất của cha mẹ. Một thời gian sau T đổi nền nhà này với bị đơn – bà chúc để lấy một căn nhà bà C đã cất sẵn phía mé mương. Đến năm 1990, T kêu bán căn nhà phía mé mương với giá 4 chỉ. Bà con chòm xóm ai cũng trả 3 chỉ. Bị đơn – bà C mua cho T 4 chỉ vàng.

Do cần tiền, năm 1988 cụ M2 và các con bán căn nhà và đất số I đường H cho bà C, diện tích 90m² và mé mương...

Các phần diện tích mà bà C đã mua lại hết có sự ghi nhận của bà M2 là mẹ cùng các con – là em bà C ký xác nhận là ông Nguyễn Văn N và bà Đặng Thị T. Tóm lại, Toàn bộ diện tích đất bà C mua lại và được cho, đã sử dụng hợp pháp đến nay đã hơn 30 năm. Vậy tất cả đều là tài sản hợp lệ của bà C. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông N, bà T và bà M.

- Bà Nguyễn Thị C thống nhất ý kiến của người bảo vệ, bà khẳng định toàn bộ 03 thửa đất này là do bà mua và cha mẹ có cho một phần, bà cũng có công sức bồi đắp nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông N, bà T và bà M.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên tòa:

Về tố tụng:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự kháng cáo trong hạn luật định và thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên xem xét hợp lệ về mặt hình thức.

Về nội dung kháng cáo:

Các đương sự tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất đã nhiều năm, phần đất tranh chấp chưa có giấy tờ về đất đai theo quy định và năm 2009 đã hết thời hiệu chia thừa kế của cụ M1 nên thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai là của Chủ tịch UBND quận N. Tại Công văn số 264/UBND-TD ngày 29/01/2010 của Chủ tịch UBND quận N có ý kiến:

Việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa các bên là tranh chấp về phần di sản thừa kế nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân quận ninh K cho rằng thời hiệu khởi kiện về thừa kế của các bên đã hết hiệu lực nên không thụ lý giải quyết. Do đó, đề nghị UBND phường T hướng dẫn các bên lập thủ tục đăng ký thừa kế đồng sở hữu phần đất (diện tích 56,6m²) theo quy định pháp luật.

Riêng phần đất có diện tích 87,9m², thuộc thửa 306 và phần đất 54,3m², thuộc thửa 370 đã thỏa thuận thống nhất thuộc quyền sử dụng của bà C.

Cho đến nay, không có đương sự nào khiếu nại quyết định của UBND quận N, bà C cũng đã được cấp 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 306 và 370 nên 02 thửa đất này không còn là di sản của cụ M1 và cụ M2 nữa. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông N, bà T và bà M về phần này.

Đối với phần diện tích 56,6m², thửa 631 được xác định là của đồng sở hữu nên chia theo pháp luật. Bà C có công sức gìn giữ, cải tạo, bồi đắp nên trích 20% giá trị đất trả công sức đóng góp quản lý, tôn tạo cho bà C, còn lại chia đều thành 05 phần, mỗi người một phần. Giao hiện vật cho bà C, bà C có trách nhiệm thanh toản kỳ phần được hưởng cho mỗi đồng thừa kế.

Từ những căn cứ trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng đã phân tích nêu trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: ông N, bà T, bà M kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét và giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp di sản thừa kế, chia tài sản chung, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” và giải quyết là đúng quy định tại khoản 2, 5, 14 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án và kháng cáo của ông Nguyễn Văn N, bà Đặng Thị T và bà Nguyễn Thị M.

[2.1] Theo thừa nhận của các đương sự và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện:

- Về hàng thừa kế: cụ Nguyễn Văn M1 (chết năm 1976) và cụ Đặng Thị M2 (chết ngày 05/6/2010), có 05 người con gồm Võ Thanh T1 (chết năm 1972, có 06 người con), Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị M, Nguyễn Văn N, Đặng Thị T; cụ M1 và cụ M2 chết không có để lại di chúc.

- Về tài sản tranh chấp: Theo các tài liệu có trong hồ sơ, Bản trích đo địa chính ngày 05/9/2019 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có 03 phần đất tranh chấp, cụ thể như sau:

- Phần đất có diện tích 87,1m² thuộc thửa 306 tờ bản đồ 11.

- Phần đất có diện tích 54,3m² thuộc thửa 370 tờ bản đồ 11 (thửa đất các đương sự cho là ở mé mương trước đây).

- Phần đất có diện tích 56,7m² thuộc thửa 631 tờ bản đồ 11 (theo BĐDC).

[2.2] Về nguồn gốc các thửa đất đất tranh chấp là của cụ M2 và cụ M1 thuê đất của ông Phát A để làm nhà ở và sử dụng từ trước năm 1975.

Tại báo cáo số 484/BC-PTNMT ngày 17/12/2009 của Phòng tài nguyên và Môi trường quận N, cũng như lời thừa nhận của các đương sự, có căn cứ xác định:

Phần đất tranh chấp chia làm 03 phần, cụ thể: Bà Nguyễn Thị C một phần chính diện nhìn vào bên trái; Bà Đặng Thị T một phần phía sau, lối cặp đi hẻm I H; Bà Đặng Thị M2 ở chung với ông Nguyễn văn N2 một phần chính diện nhìn vào bên phải và phần mé mương phía trước căn nhà chính và cách con hẻm.

Giữa bà T và bà C có hoán đổi với nhau (bù tiền, chỉ thừa nhận không giấy tờ chứng minh).

Ngày 20/10/1988, bà M2, ông N2 và bà T có lập tờ bán nhà và đất (bằng giấy tay): căn nhà có kích thước ngang 5m, dài 18m, diện tích 90m² và phần mé mương cho bà C.

Ngày 11/11/1988, bà M2 có lập thêm tờ ủy quyền cho bà C được thừa hưởng nhà và đất của gia đình diện tích 90m² nêu trên, có xác nhận của UBND phường T ngày 14/11/1988.

Năm 2003, giữa bà Nguyễn Thị M và các anh em trong gia đình có phát sinh tranh chấp yêu cầu phân chia di sản thừa kế. Ngày 06/5/2003, UBND phường T có hòa giải giữa các bên nhưng không thỏa thuận được, chỉ yêu cầu phân chia phần của bà M2.

Ngày 31/8/2004, UBND quận N có Công văn số 1695 trả lời đơn của bà M, đề nghị bà M khởi kiện đến Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều để được xem xét giải quyết, nhưng bà M không khởi kiện,

Ngày 09/02/2009, UBND phường T có hòa giải về tranh chấp thừa kế giữa bà M4, ông N3, bà T với bà C nhưng không thỏa thuận được.

Ngày 16/02/2009, UBND phường T có Công văn số 66/UBND chuyển đơn yêu cầu phân chia di sản thừa kế giữa các bên đến Tòa án nhân dân quận ninh kiều để giải quyết.

Ngày 09/6/2009, Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều có Công văn số 223/2009/CV.TA chuyển trả hồ sơ lại cho UBND phuồng T, lý do: Thời hiệu khởi kiện về thừa kế đã hết nên không thuộc trường hợp thụ để lý giải quyết.

Ngày 12/11/2009, Phòng T có mời các bên tranh chấp, tại buổi làm việc:

+ Phía bà M, ông N2, và bà T thống nhất phần đất ngang 5m, dài 18m và phần mẽ mương đã bán cho bà C thì bà C sử dụng; riêng phần đất còn lại của ông Nguyễn Văn m thì anh em thống nhất để làm nhà thờ.

+ Phía bà C không thống nhất để phần đất còn lại làm nhà thờ vì cho rằng phần đất này cha mẹ đã cho bà và nếu muốn chia thì phải chia theo quy định của pháp luật.

Từ kết quả nêu trên, Phòng Tài nguyên và Môi trường quận N đề xuất diện tích tranh chấp 56,6m² đất, thuộc một phần thửa 306 (nay là thửa số 631), tờ bản đồ số 11, là thừa kế đồng sở hữu. Riêng diện tích 87,9m², thuộc thửa 306 và phần 54,3m² thuộc thửa 370, tờ bản đồ số 11, thuộc quyền sử dụng đất của bà C.

Tại Công văn số 264/UBND-TD ngày 29/01/2010 của Chủ tịch UBND quận N có ý kiến:

- Việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa các bên là tranh chấp về phần di sản thừa kế nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân quận ninh K cho rằng thời hiệu khởi kiện về thừa kế của các bên đã hết hiệu lực nên không thụ lý giải quyết. Do đó, đề nghị UBND phường T hướng dẫn các bên lập thủ tục đăng ký thừa kế đồng sở hữu phần đất (diện tích 56,6m²) theo quy định pháp luật.

- Riêng phần đất có diện tích 87,9m², thuộc thửa 306 và phần đất 54,3m², thuộc thửa 370 đã thỏa thuận thống nhất thuộc quyền sử dụng của bà C.

Ngày 05/03/2010, UBND quận N có công văn số 517/UBND-TD về việc giải quyết tranh chấp đất giữa bà M4, ông N2, bà T với bà C, thông báo đến các hộ có liên quan được biết Công văn số 264/UBND-TD và liên hệ với UBND phường T để được hướng dẫn, giải quyết theo thẩm quyền luật định.

Như vậy, thời điểm năm 2009 do đất chưa có giấy tờ về đất đai theo qui định tại Điều 50 Luật đất đai năm 2003, thời hiệu khởi kiện chia thừa kế của cụ M1 đã hết nên tranh chấp đất đai giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND quận N là đúng quy định tại Điều 136 Luật đất đai năm 2003. Các đương sự đã được U Kiều thông báo kết quả giải quyết tranh chấp từ năm 2010 và cho đến nay không có khiếu nại về kết quả giải quyết này.

[2.3] Từ kết quả giải quyết của UBND quận N, bà C làm đơn xin đăng ký và được UBND quận N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00656 ngày 21/10/2011, thửa đất số 306, diện tích 87,1m² và số CH00657 ngày 21/10/2011, thửa đất số 370, diện tích 54,25m².

Như vậy, phần đất bà C nhận chuyển nhượng của bà M2, bà T, ông N2, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đa số đồng thừa kế cũng thống nhất là của bà C nên không còn là di sản của cụ M1 và cụ M2. Do đó, ông N2, bà T, bà M kháng cáo yêu cầu chia thừa kế phần này là không có căn cứ và cũng không có căn cứ hủy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà C.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông N2 và bà M tự nguyện rút yêu cầu hủy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này nên cần hủy đình chỉ giải quyết phần này.

[2.4] Xét Phần đất có diện tích 56,7m² thuộc thửa 631 tờ bản đồ 11 (theo BĐDC)

Theo kết quả định giá do Hội đồng định giá định ngày 17/6/2024, thì phần đất này có giá trị: 56,7m² x20.000.000đ/m²= 1.134.000.000₫.

Phần đất này hiện nay chưa có ai có giấy tờ về đất đai theo qui định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013. Tại Công văn số 264/UBND-TD ngày 29/01/2010 của Chủ tịch UBND quận N về giải quyết tranh chấp đất đai xác định đây là đồng sở hữu chung của các đồng thừa kế, do bà M2 chết ngày 05/6/2010 nên đây là tài sản chung của 05 người con của bà M2, mỗi người 1/5 giá trị tài sản. Bà C là người trực tiếp sinh sống lâu dài trên đất, có công sức gìn giữ, bồi đắp, cải tạo làm tăng giá trị đất, cần trích 20% giá trị để tính trả công sức đóng góp quản lý, tôn tạo cho bà C, đồng thời cũng cần giao toàn bộ phần diện tích đất này cho bà C, bà C có trách nhiệm thanh toán phần được hưởng của mỗi đồng sở hữu chung là (1.134.000.000₫ – 20%x1.134.000.000₫)/5= 181.440.000đ.

Đối với ông Võ Văn T5 đã chết, có 06 người thừa kế thế vị gồm: Võ Thanh S, Võ Thanh L2, Võ Thị Mỹ Á, Võ Thị Mỹ L1, Võ Thị Ánh T2 và Võ Thanh H, do ông Võ Thanh H đại diện nhận kỷ phần được hưởng.

[3] Về án phí: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều là người cao tuổi nên miễn án phí cho các đương sự.

[4] Về chi phí đo đạc, thẩm định và định giá tài sản:

Cấp sơ thẩm chi hết 5.508.000₫ và buộc ông N2 chịu số tiền này, ông N2 đã thực hiện xong.

Cấp phúc thẩm chi phí thẩm định, định giá tài sản hết 2.300.000₫ do ông N2 tự nguyện chịu chi phí này nên ghi nhận.

[5] Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 207, 209; Điều 219, Điều 623, 651, 652 của Bộ luật Dân sự 2015 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị M và bà Đặng Thị T;

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 90/2023/DS-ST ngày 24-5-2023 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị M về việc yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng các thửa đất:
    • + Thửa đất số 306, diện tích: 87,1m², đất ODT, tờ bản đồ số 11, bà Nguyễn Thị C đước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 00656 do UBND quận N cấp này 21/10/2011
    • + Thửa đất số 370, diện tích 54,25m², đất ODT, tờ bản đồ số 11, bà Nguyễn Thị C đước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 00657 do UBND quận N cấp này 21/10/2011.

    Hủy và đình chỉ yêu cầu hủy 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 00657 và số CH00656 do UBND quận N cấp này 21/10/2011

  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị M về việc yêu cầu chia tài sản chung.

    Xác định quyền sử dụng diện tích 56,7m² đất ở tại đô thị, thửa đất số 631, tờ bản đồ số 11, là tài sản chung của ông N, bà C, bà M, bà T và ông T5 (có 06 người thừa kế thế vị gồm: Võ Thanh S, Võ Thanh L2, Võ Thị Mỹ Á, Võ Thị Mỹ L1, Võ Thị Ánh T2 và Võ Thanh H), có giá trị 1.134.000.000₫.

    Chia cho bà Nguyễn Thị C toàn bộ quyền sử dụng diện tích 56,7m² đất ODT, thửa đất số 631, tờ bản đồ số 11, tọa lạc Hẻm I đường H, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ theo Bản trích đo địa chính số 77/TTKTTNMT ngày 05/9/2019 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C.

    Chia cho ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị M, bà Đặng Thị T, ông Võ Thanh H ( đại diện các thừa kế của ông Võ Văn T5), mỗi người một phần giá trị quyền sử dụng đất là 181.440.000đ (Một trăm tám mươi mốt triệu, bốn tăm bôn mươi đồng).

    Buộc bà Nguyễn Thị C có trách nhiệm trả cho Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị T4, ông Võ Thanh H (đại diện các thừa kế của ông Võ Văn T5) mỗi người 181.440.000đ (Một trăm tám mươi mốt triệu, bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành số tiền nêu trên, thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất chậm trả được tính theo quy định tại Điều 357 và Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị C về việc công nhận diện tích 56,7m² đất ở tại đô thị, thửa đất số 631, tờ bản đồ số 11, địa chỉ hẻm I, đường H, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị C. Bà Nguyễn Thị C.
  4. Về chi phí đo đạc, thẩm định và định giá tài sản: Ông Nguyễn Văn N phải chịu 7.808.000đồng, công nhận đã nộp và chi xong.
  5. Về án phí:
    • - Dân sự sơ thẩm: Miễn án phí cho các đương sự, do là người cao tuổi.
    • Ông Nguyễn văn N2 được nhận lại 500.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 003472 ngày 23/02/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều.
    • - Dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu

    Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hải – Lê Thị Minh Trang

Nguyễn Quyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 285/2024/DS-PT ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp di sản thừa kế, chia tài sản chung và hủy giấy cnqsd đất

  • Số bản án: 285/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp di sản thừa kế, chia tài sản chung và hủy giấy CNQSD đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger