Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 284/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 29-11-2023

“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Linh Duy

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Ghên;
  2. Bà Lê Thị Xuân Đào.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1001/2023/TLST-HNGĐ ngày 03/10/2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 304/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 175/2023/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1989;
  • Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
  • - Bị đơn: Ông Đỗ Minh H, sinh năm 1983;
  • Địa chỉ: Ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
  • (Bà N xin vắng mặt, H vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 06/9/2023, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà N và ông H chung sống vợ chồng từ năm 2009 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An vào ngày 28/3/2009. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng thường xuyên gây gỗ, cãi vã nhau, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, mặc dù cho nhau nhiều cơ hội để hòa giải nhưng không có kết quả. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài nên bà N khởi kiện yêu cầu:

  • - Về tình cảm: Bà Nguyễn Thị N yêu cầu ly hôn với ông Đỗ Minh H.
  • - Về con chung: Có 03 con chung tên Đỗ Minh K, sinh ngày 16/3/2011; Đỗ Gia T, sinh ngày 08/6/2013 và Đỗ Ngọc N1, sinh ngày 03/4/2021. Khi ly hôn bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Đỗ Ngọc N1, con chung Đỗ Minh KĐỗ Gia T giao cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào cấp dưỡng cho việc nuôi con.
  • - Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
  • - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn ông Đỗ Minh H có ý kiến trình bày tại bản tự khai ngày 30/10/2023: Ông H thống nhất về điều kiện kết hôn, thời gian chung sống, mâu thuẫn vợ chồng và con chung như bà N trình bày. Nay bà N yêu cầu ly hôn thì ông H đồng ý. Về tài sản chung và nợ chung thống nhất là không có nên không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa, xét bà Nguyễn Thị N và ông Đỗ Minh H đều có đơn đề nghị xử vắng mặt. Trước đề nghị của bà N và ông H, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo qui định khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Đỗ Minh H, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An nơi bị đơn cư trú thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2]. Về sự vắng mặt của các đương sự trong vụ án:Nguyễn Thị N và ông Đỗ Minh H đều có đơn đề nghị xử vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp theo qui định khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về tình cảm: Xét quan hệ hôn nhân giữa bà N, ông H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An vào ngày 28/3/2009 nên hôn nhân giữa bà N và ông H là hợp pháp theo qui định Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét yêu cầu ly hôn của bà N đối với ông H: Bà N cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng thường xuyên gây gỗ, cãi vã nhau, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, hôn nhân không hạnh phúc. Tại bản tự khai ngày 30/10/2023, ông H trình bày: ông H thống nhất với lời trình bày của bà N về mâu thuẫn vợ chồng giữa ông và bà N, ông H đồng ý ly hôn với bà N. Từ đó, Hội đồng xét xử xét hôn nhân giữa bà N và ông H đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà N yêu cầu xin ly hôn với ông H là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2]. Về con chung:N trình bày quá trình chung sống thì bà N và ông H có 03 con chung tên Đỗ Minh K, sinh ngày 16/3/2011; Đỗ Gia T, sinh ngày 08/6/2013 và Đỗ Ngọc N1, sinh ngày 03/4/2021. Khi ly hôn, bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Đỗ Ngọc N1, con chung Đỗ Minh KĐỗ Gia T giao cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng, Không bên nào cấp dưỡng cho việc nuôi con. Ông Đỗ Minh H có ý kiến trình bày tại bản tự khai ngày 30/10/2023: Ông H đồng ý theo yêu cầu của bà N, khi ly hôn, ông H nuôi dưỡng 02 cháu Minh KGia T, bà N nuôi dưỡng cháu Ngọc N1, đồng thời trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, cháu Minh K và cháu Gia T có ý kiến trình bày mong muốn được sống cùng với ông H. Từ đó, Hội đồng xét xử xét thấy giao cháu Minh KGia T cho ông H tiếp tục nuôi dưỡng; giao cháu Ngọc N1 cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.3]. Về cấp dưỡng nuôi con:N và ông H đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung là tự nguyện và phù hợp với các Điều 107, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên ghi nhận.

[2.4]. Về tài sản chung, nợ chung:Nguyễn Thị N bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết và ông Đỗ Minh H xác định không có tài sản chung, không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí tòa án;

Buộc nguyên đơn bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí ly hôn sung ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng các Điều 9, Điều 14, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị N đối với ông Đỗ Minh H.

    Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Đỗ Minh H.

  2. Về con chung:Nguyễn Thị N được nuôi dưỡng con chung tên Đỗ Ngọc N1, sinh ngày 03/4/2021; ông Đỗ Minh H được nuôi dưỡng 02 con chung tên Đỗ Minh K, sinh ngày 16/3/2011 và Đỗ Gia T, sinh ngày 08/6/2013.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con:N, ông H đều không phải cấp dưỡng nuôi con vì không bên nào có yêu cầu cấp dưỡng.
  4. Về quyền chăm sóc con chung: Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

    Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  5. Về tài sản chung:Nguyễn Thị N trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết và ông Đỗ Minh H xác định không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  6. Về nợ chung:Nguyễn Thị N và ông Đỗ Minh H xác định không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  7. Về án phí:Nguyễn Thị N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước, khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí bà N đã nộp theo biên lai số 0005788 ngày 02/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hoà sang án phí để thi hành. Bà Nguyễn Thị N đã nộp xong.
  8. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày niêm yết.

    Trường hợp bản án hoặc quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án".

Thành viên Hội đồng xét xử

Nguyễn Văn Ghên Lê Thị Xuân Đ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Khắc Linh D

4

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 284/2023/HNGĐ-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về ly hôn

  • Số bản án: 284/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Ngân "Ly hôn" Đỗ Minh Hùng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger